Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng (ngày 17-10-1945): "Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì".

6 nhiệm vụ cấp bách

Suốt cuộc đời Người "chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".

Nếu coi hạnh phúc đối với mỗi người trước hết là những quyền dân sinh cơ bản như ăn, mặc, ở, học hành thì ngay từ khi thành lập, hạnh phúc của nhân dân đã trở thành lý tưởng phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Chính cương vắn tắt thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930) với 13 mục tiêu cụ thể của cách mạng trên 3 phương diện: Xã hội, chính trị và kinh tế thì có 6 mục tiêu đề cập trực tiếp đến những mong mỏi thiết tha nhất của nhân dân về dân sinh, dân quyền lúc bấy giờ, trong đó có: Nam nữ bình quyền; thực hiện phổ thông giáo dục; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; thi hành ngày làm 8 giờ...

Hạnh phúc của nhân dân cũng là những chính sách đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay khi ra đời. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ vào sáng 3-9-1945, Chính phủ xác định 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết ngay: Chống nạn đói, chống nạn dốt, tổ chức tổng tuyển cử, giáo dục lại tinh thần của nhân dân, bỏ các thứ thuế vô lý, cấm hút thuốc phiện và thực hiện tự do tín ngưỡng. 6 nhiệm vụ này bao quát tất cả những đòi hỏi thiết thân nhất của nhân dân trong những ngày đầu sau cách mạng, thực chất là những điều hạnh phúc nhất đối với mỗi người Việt Nam trên nền tảng niềm hạnh phúc lớn nhất của cả dân tộc lúc này là độc lập và tự do.

Khởi đầu bằng những điều căn bản


Đảng luôn vì hạnh phúc của nhân dân - Ảnh 1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu phụ nữ các dân tộc ở tỉnh Hà Giang. Ảnh: baotanghochiminh.vnTừ những quyết sách quan trọng và quyết tâm to lớn đó mà những ngày sau cách mạng, nhân dân Việt Nam không chỉ được sống trong bầu không khí của độc lập và tự do mà còn được thụ hưởng hạnh phúc thật sự với việc thoát khỏi nạn đói do thực dân, phát xít gây ra.

Nhân dân ta có cái ăn; được học hành, thoát mù chữ; thoát sưu cao, thuế nặng hàng trăm năm. Nhân dân ta cũng lần đầu tiên cầm lá phiếu bầu chọn những người tài đức thay mặt mình; để rồi sau đó được Hiến pháp năm 1946 ghi một cách trang trọng ngay ở điều đầu tiên: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo".

Hạnh phúc của con người trong một nước tự do và độc lập được khởi đầu bằng những điều căn bản như vậy. Do đó, "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" đã trở thành những giá trị căn cốt, nền tảng của chế độ mới như Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu trong phiên bế mạc kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I (ngày 9-11-1946): "Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc. Chúng ta không mong gì hơn nhưng chúng ta không chịu gì kém".

Như vậy, có thể thấy ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng và kiến quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực sự lấy nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân làm điểm xuất phát cho đường lối và chính sách của mình; coi hạnh phúc của nhân dân là lý tưởng để phấn đấu, tôn chỉ để hành động. Điều này cũng chính là cơ sở quyết định nhất cho sự ra đời, lựa chọn những quyết sách chiến lược quan trọng của Đảng trong tất cả các thời kỳ sau đó.

Cũng vì hạnh phúc của nhân dân, trên nền tảng độc lập, tự do của dân tộc mà Đảng đưa ra đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc trong thời kỳ 1945-1954. Qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, không chỉ dân tộc giành lại được độc lập mà nhân dân ở nhiều vùng miền cũng có điều kiện được hưởng niềm hạnh phúc của con người Việt Nam mới qua việc được cấp phát ruộng đất, tự do sản xuất, được học hành, chăm sóc y tế; trở thành công dân của một chế độ dân chủ mới, được góp sức mình vào công việc chung của đất nước.

Đó không chỉ là sự vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam mà còn là sự trưởng thành về nhiều mặt của những con người Việt Nam trong thời đại mới. Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trường kỳ gian khổ, với việc đất nước bị chia cắt, để giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc cũng như giữ gìn và xây đắp niềm hạnh phúc cho nhân dân mà Đảng đã quyết định lựa chọn đường lối kết hợp vừa kháng chiến ở miền Nam vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giữa nhiều sự tác động mạnh mẽ từ bên ngoài.

Trong đó, giải phóng miền Nam là để tiến lên giành lấy độc lập, tự do thật sự cho nước nhà. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là để từng bước xác lập một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân qua từng chính sách cụ thể trên các mặt của đời sống; lấy đó làm động lực to lớn để giành thắng lợi hoàn toàn.

Sau 21 năm đầy thử thách và hy sinh, dân tộc Việt Nam đã không những thống nhất được Tổ quốc; mà từ khói lửa của chiến tranh, một chế độ xã hội mới với những điều tốt đẹp cho con người đã được định hình, từng bước củng cố.

Hạnh phúc của nhân dân lúc này là sự thẩm thấu những thành quả to lớn của đất nước qua những năm trường kỳ kháng chiến và thành quả to lớn nhất vẫn là sự độc lập và tự do của Tổ quốc. 

"Chúng ta sẽ thành công"

Với chỗ dựa to lớn là nhân dân và xuất phát từ chính hạnh phúc của nhân dân nên Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng: "Với lòng yêu nước và yêu nhân dân sâu sắc, tôi chắc chúng ta sẽ thành công". Trong bài báo nổi tiếng "Sao cho được lòng dân" đăng trên Báo Cứu quốc, số 65 (ngày 12-10-1945), Người nêu nguyên tắc hoạt động của Nhà nước là: "Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh".

ThS Thạch Kim Hiếu