Những ngày vừa qua, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh thu hút đông đảo giới trẻ trong và ngoài nước đến với triển lãm “Tình yêu trong chiến tranh” (khai mạc ngày 9-2).
Kỷ vật của tình yêu, niềm tin
Tự tay thêu cho người yêu chiếc khăn tay, vỏ gối hay làm chiếc lược, kẹp tóc... là cách mà những người trẻ tuổi thời chiến gửi gắm, trao nhau. Cô Trần Kim Ghết, giao liên Tiểu đoàn Pháo binh 2311, đã thêu chiếc khăn tay với những bông hoa nhỏ cùng dòng chữ nghiêng nghiêng “Hoa hạnh phúc nở trên trời cộng sản. Vững lòng tin chủ nghĩa Mác – Lênin” để tặng người yêu là Ngô Minh Chiến (tức Bảy Sơn), trinh sát cùng tiểu đoàn dịp Tết Ất Tỵ (1965). Những ngày bị giam cầm ở Bình Thủy, Cần Thơ, chiến sĩ Nguyễn Văn Quang gửi nhớ thương tới người vợ thân yêu bằng cách tự tay thêu cành mai, căn nhà nhỏ và xa xa là con thuyền trên chiếc vỏ gối để làm quà tặng vợ ngày gặp lại.
“Những cái khăn này tự tay em vẽ lấy, thêu lấy, từ lúc nó là mảnh vải cho đến khi thành cái khăn em đã gửi vào đó bao nỗi niềm nhớ thương, mong đợi. Gửi anh một tấm chân tình trong trắng của cô gái 20”. Đó là những dòng chữ mà Đặng Kim Chung gửi đến người yêu là Trần Quang Nghiệp, Đại đội 3, Tiểu đoàn 14, Sư đoàn 330. Những kỷ vật tuy không mang nhiều giá trị vật chất nhưng chứa đựng rất nhiều tin yêu, hy vọng. Chiếc lược khắc hình chim bồ câu và dòng chữ “Vui ngày đoàn tụ” mà một bạn tù đã tặng cho Tô Thị Tâm trong thời gian bà bị giam giữ ở tù Côn Đảo được bà luôn luôn mang bên mình như một kỷ niệm không bao giờ quên. Hay chiếc kẹp tóc khắc hai chữ Sáng – Linh lồng vào trái tim của chiến sĩ Trần Văn Sáng, Đại đội 2, Lữ đoàn 126 làm tặng người yêu tên Linh, nhưng chưa kịp tặng thì anh đã hy sinh tại chiến trường Campuchia, kỷ vật này được tìm thấy cùng hài cốt của anh...
Gửi nỗi nhớ vào trang thư
Theo bà Đoàn Lê Phong, Ban Liên lạc cựu tù chính trị, tù binh TPHCM, thì những ngày sống xa nhau, bao nỗi buồn, niềm vui và nỗi nhớ, đôi lứa chỉ biết gửi vào những trang thư. Nhiều đêm thức giấc, bà thấy những đồng đội của mình vẫn canh cánh bên trang giấy gửi người yêu. Những câu chữ giản dị mà ẩn chứa bao nỗi lòng: “Em xa anh đã gần ba cái Tết mà cứ tưởng đã gần ba thế kỷ. Ừ rằng lâu thế, mỗi lần nhắc tên anh, em lại nhớ nhiều. Em không khóc nhưng ứa nước mắt đôi chút. Em nhớ anh quá nhưng chưa biết làm sao...” (thư bạn gái gửi chiến sĩ Tăng Văn Phiệt được viết vào ngày 6-12-1970).
Trong thư gửi người yêu, bà Đặng Kim Chung viết: “Chia tay anh 7 giờ tối tại ga Thái Nguyên, tàu chuyển bánh ôm theo một mối tình buồn vô tận. Suốt đêm đó, những hình ảnh chúng ta cùng chung công tác cứ hiện ra trong tâm trí em...”. Còn trong thư gửi vợ, ông Nguyễn Đệ (Ba Trung), nguyên Tư lệnh Quân khu 9, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, viết: “Em ráng giữ gìn sức khỏe, em ốm yếu anh lo quá. Em thương anh và con thì mỗi bữa em ráng ăn 4 - 5 chén cơm, đừng lo nghĩ gì để mỗi khi chúng ta gặp nhau em mập và mạnh là anh mừng”. Những lời dặn dò ấy chính là động lực, là sức mạnh để họ vượt qua bao khó khăn, thử thách với niềm tin vào ngày đoàn tụ.
Hạnh phúc ngày gặp lại
Chúng tôi đã tìm gặp ông Trần Trọng Tân (Phan Huy Vân), nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, nguyên Phó Bí thư Thành ủy TPHCM, tác giả bài thơ Mối tình đẹp (in trong tập thơ Bài ca lâm trận, NXB Văn học Giải phóng, năm 1975). Đã 82 tuổi nhưng ông vẫn nhớ như in mối tình xúc động của đồng đội được ông thể hiện trong bài thơ này.
![]() |
| Chiếc kẹp tóc khắc chữ Sáng- Linh của liệt sĩ Trần Văn Sáng |
Đó là chuyện tình giữa Lê Hồng Tư và Nguyễn Thị Châu. Chuyện là, sau khi bị đày ra Côn Đảo, ông Trần Trọng Tân đã gặp Lê Hồng Tư (bị kết án tử hình) – người mà Nguyễn Thị Châu, một đồng đội cũ của ông, khai trong lý lịch là chồng chưa cưới. Nhưng thật ngạc nhiên khi trong tù Lê Hồng Tư kể với ông rằng: Đã vài lần Tư ngỏ lời nhưng Châu luôn từ chối, hai người chưa hề hứa hẹn chuyện vợ chồng. Vậy mà khi biết Lê Hồng Tư bị xử tử hình, Nguyễn Thị Châu đã không ngần ngại nhận anh là chồng sắp cưới. Xúc động trước mối tình này, ông Trần Trọng Tân đã làm những câu thơ: “Anh ngỏ ý lần đầu/ Em ngập ngừng từ chối/ Trong lòng nghe vời vợi/ Biết nói sao cho cùng/ Đường kháng chiến mênh mông/ Quê hương còn đau khổ/ Em nén yêu nén nhớ/ Hỏi nữa em làm thinh/ Giặc xử anh tử hình/ Trong xà lim em khóc/ Giận quân thù ác độc/ Tự bảo em yêu anh/ Anh ơi em vẫn tin/ Anh sống hoài sống mãi/Mặc cho án tử hình/Trăm năm em vẫn đợi” (Mối tình đẹp). Và sau đó, Lê Hồng Tư đã thoát án tử hình, sau ngày giải phóng họ tìm được nhau và tổ chức lễ thành hôn.
|
Trọn vẹn một tình yêu Năm 1960, ông Trần Trọng Tân được điều động vào Nam Bộ kháng chiến. Lúc này vợ chồng ông đã có 4 con, con lớn 7 tuổi, nhỏ nhất mới được vài tháng tuổi. Trước ngày chia tay, ông hỏi vợ: “Anh đi thì em lo điều gì nhất?”. Vợ ông ngập ngừng rồi nói: “Anh đi em có ba cái lo. Thứ nhất là lo anh hy sinh. Thứ hai là anh bị bắt, bị tra tấn không giữ vững khí tiết. Thứ ba là sợ anh không giữ trọn lòng chung thủy”. Ông hỏi lại vợ: “Thế trong ba điều đó em lo điều gì nhất?”. Vợ ông đáp: “Hai điều trên nếu xảy ra dù đau đớn đến đâu em cũng vượt qua được, nhưng nếu anh trở về không còn chung thủy sẽ là điều làm em khổ đau và ray rứt nhất”. 15 năm sau, vợ chồng họ mới gặp lại nhau. Ông Tân kể: “Khi về, tôi gặp lại vợ và đứng nghiêm chào. Tôi nói: Ba cái lo của em đến giờ không có điều gì để phải lo cả. Đó cũng là chính là điều hạnh phúc nhất của cuộc đời tôi”. |

Bình luận (0)