Đăng nhập
icon Đăng ký gói bạn đọc VIP E-paper

TP HCM dũng cảm “xé rào”

THÁI PHƯƠNG

Ông Phạm Chánh Trực (bí danh Năm Nghị) - nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy - là một trong những chứng nhân của giai đoạn TP HCM "xé rào", đổi mới

MỘT THỜI "CHẠY ĂN"

Sau ngày 30-4-1975, Phạm Chánh Trực là một cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, được trao trọng trách Bí thư Thành Đoàn Sài Gòn - Gia Định (nay là TP HCM). Với vai trò đó, ông được tham gia trực tiếp các cuộc họp tái thiết cả ngày lẫn đêm của Thành ủy lúc bấy giờ, cùng lãnh đạo đi xuống cơ sở, khảo sát thực tế.

Ông hồi tưởng, bối cảnh sau ngày thống nhất đất nước, người dân phấn khởi, tưng bừng, nhưng thành phố đối diện với nguy cơ rất lớn: một là nạn đói, hai là thất nghiệp. Có cả triệu người thất nghiệp ở giữa trung tâm công nghiệp của miền Nam. Chủ trương áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của miền Bắc cho cả nước khiến các nhà máy, xí nghiệp ở đây phải chờ Trung ương cấp vật tư, nguyên liệu để sản xuất; sản xuất ra bao nhiêu thì thương nghiệp quốc doanh thu mua hết, rồi phân phối lại.

TP HCM dũng cảm “xé rào” - Ảnh 1.

Ông Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) - nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP HCM. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Nhưng cả nước lúc đó cùng kiệt quệ sau chiến tranh, nguồn lực từ ngân sách hạn chế, không đủ vật tư, nguyên liệu cho sản xuất. Nhà máy đình đốn, công nhân thiếu việc làm, có khi phải nghỉ không lương, máy móc thiết bị thì đắp chiếu. Hoạt động phân phối lưu thông bị "ngăn sông cấm chợ", kết quả là hàng hóa làm ra "mua như giựt, bán như cho".

Lãnh đạo TP HCM phải liên tục chạy ăn cho 3,5 triệu dân rất khốn khó - có khi gạo dự trữ chỉ còn một tuần. Thành phố nằm cạnh ĐBSCL mà vẫn đói, có thời gian phải ăn độn. Đời sống xã hội rất khó khăn...

NHỮNG CUỘC HỌP XUYÊN ĐÊM

Trong bối cảnh bức bách ấy, lãnh đạo Thành ủy TP HCM đau đáu tìm lời giải. Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt cùng một nhóm cán bộ đi cơ sở, xuống các nhà máy, hỏi từ giám đốc, quản đốc phân xưởng, tới công nhân, người lao động để tìm cách khôi phục sản xuất...

"Nếu có việc làm ngoài giờ, bà con có làm không"? Ông Năm Nghị kể lại câu chuyện Bí thư Võ Văn Kiệt hỏi công nhân ở nhà máy. Ai cũng mừng, vì dù ngoài kế hoạch nhưng có thêm thu nhập.

Ngay sau đó, các đồng chí lãnh đạo Thành ủy TP HCM bàn với nhau cách vay mượn tiền, vàng trong dân, kể cả ngoại tệ, để nhập vật tư, nguyên liệu, rồi hợp tác với nhà máy đưa vào sản xuất. Bên cạnh kế hoạch A là theo yêu cầu của Trung ương, thành phố triển khai thêm "Kế hoạch B" - sản xuất ngoài giờ nhằm khai thác công suất thừa của các nhà máy.

Khi có sản phẩm, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước như thuế, chi phí..., phần còn lại mang xuống ĐBSCL đổi lấy nông sản. Tiếp đó, đem nông sản đó xuất khẩu, lấy ngoại tệ, lại nhập vật tư, nguyên liệu về tiếp tục sản xuất. Vòng quay kinh tế được khép kín dần. Nhưng lúc đó xuất nhập khẩu bị cấm, Nhà nước độc quyền ngoại thương. Thành phố làm như vậy là không đúng quy định. Muốn mua bán nông sản với bà con cũng không thể theo giá Nhà nước, phải mua theo giá thị trường, cho nên Trung ương có ý kiến là thành phố phá giá, tình hình rất căng thẳng!

"Đã có rất nhiều cuộc họp từ sáng tới đêm của lãnh đạo Thành ủy. Ngay trong nội bộ lãnh đạo cũng có nhiều ý kiến trái chiều, có những băn khoăn, nhưng trên tất cả đều vì mục tiêu, lợi ích chung là vì người dân, cho người dân. Tinh thần một lòng chỉ lo cứu đói, lo khôi phục sản xuất, khôi phục kinh tế, không vì lợi ích riêng nên mới dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để "xé rào", "bung ra" - ông Năm Nghị quả quyết.

Dần dần, sản xuất khôi phục, kinh tế vận hành trở lại. Sau đó ông Võ Văn Kiệt được điều ra Trung ương để tham gia nghiên cứu, hoạch định chính sách. Ông Nguyễn Văn Linh vào làm Bí thư Thành ủy, tiếp tục duy trì, phát triển và tổng kết những cách làm đó, rồi báo cáo lên Bộ Chính trị. Thời kỳ ấy, các lãnh đạo trung ương cũng trực tiếp xuống cơ sở, xuống nhà máy khảo sát thực tế, kiểm tra xem những gì Thành ủy TP HCM báo cáo có đúng không? Đến khi thấy có hiệu quả, phù hợp với thực tiễn mới nhân rộng mô hình, từ đó hình thành tư duy đổi mới.

Trong vai trò Bí thư Thành Đoàn, ông Năm Nghị đã xin ý kiến Thành ủy về việc tổ chức Lực lượng Thanh niên xung phong, vừa để giải quyết nạn thất nghiệp, vừa giáo dục thanh niên qua các hoạt động lao động, sản xuất. Nổi bật là cuộc ra quân đồng loạt, quy mô lớn của Lực lượng Thanh niên xung phong với hơn 10.000 người, ngày 28-3-1976. "Đó là một cuộc biểu dương ý chí của toàn dân chuyển thành phố đầu não chiến tranh và các vùng bị địch tạm chiếm sang xây dựng hòa bình; từ ăn bám viện trợ sang lao động sản xuất tự lực tự cường. Các tỉnh, thành miền Nam lần lượt tổ chức Thanh niên xung phong xây dựng kinh tế mới" - ông Năm Nghị kể.

Sau này, trong Văn kiện Đại hội VI (năm 1986), đường lối Đổi mới được xác định với 3 nội dung lớn: một là nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; hai là bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, cho lưu thông hàng hóa; ba là mở cửa, hợp tác quốc tế, xóa bỏ độc quyền ngoại thương.

TP HCM chính là nơi khởi đầu, "xé rào" đi trước, làm trước bằng thực tiễn. Và yếu tố cốt lõi nhất là tư duy của người lãnh đạo. "Tôi nhớ đồng chí Võ Văn Kiệt từng nói: "Lúc đó tôi ở vào thế như đứng giữa hai làn đạn, nếu làm theo đúng quy định thì dân đói". Chính vì thương dân, không vụ lợi cá nhân, cho nên lãnh đạo thành phố khi đó mới dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đó cũng là truyền thống năng động, sáng tạo của Sài Gòn - TP HCM, từ kháng chiến cho tới giai đoạn xây dựng đất nước. Và tinh thần đó đến hôm nay vẫn rất cần thiết, nhất là trong bối cảnh tốc độ phát triển của thời đại quá nhanh" - ông Năm Nghị đúc kết.

Hai dấu mốc

Ông Năm Nghị từng là Bí thư Thành Đoàn đầu tiên của TP HCM. Sau đó, ông trải qua nhiều vị trí, vai trò khác nhau như Bí thư Quận ủy quận 5, Trưởng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP HCM (SHTP), Phó Chủ tịch UBND TP HCM, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy kiêm Chủ tịch HĐND TP HCM, Phó Ban Kinh tế Trung ương…

Có 2 dấu mốc của ông Năm Nghị đối với sự phát triển của kinh tế TP HCM bấy giờ. Giai đoạn sau Đổi mới 1986, TP HCM bắt đầu chủ động tìm đường mở rộng hợp tác và thu hút đầu tư nước ngoài. Khoảng năm 1991, đoàn lãnh đạo thành phố đã qua Đài Loan (Trung Quốc) học tập mô hình Khu Chế xuất ở Cao Hùng và hình thành nên Khu Chế xuất Tân Thuận - mô hình đầu tiên ở Việt Nam, cột mốc mở đường cho thu hút FDI tại Việt Nam.

"Khu Chế xuất Tân Thuận chứng minh hiệu quả, nhưng công nghệ còn ở mức trung bình nên chúng tôi quyết định chuyển hướng sang công nghệ cao. Năm 1992, thành phố thành lập tổ nghiên cứu xây dựng Khu Công nghệ cao để thu hút các dự án FDI chất lượng cao, phát triển đến hiện tại" - ông Năm Nghị cho hay.


Lên đầu Top

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.

Thanh toán mua bài thành công

Chọn 1 trong 2 hình thức sau để tặng bạn bè của bạn

  • Tặng bằng link
  • Tặng bạn đọc thành viên
Gia hạn tài khoản bạn đọc VIP

Chọn phương thức thanh toán

Tài khoản bạn đọc VIP sẽ được gia hạn từ  tới

    Chọn phương thức thanh toán

    Chọn một trong số các hình thức sau

    Tôi đồng ý với điều khoản sử dụng và chính sách thanh toán của nld.com.vn

    Thông báo