Hoàn cảnh xuất hiện hai cái tĩn đựng nước mắm mà Nguyễn Mộng Giác tả ở trên là hồi kháng chiến ở miền Tây Bình Định.
Ở Nam Bộ, truyện cười bác Ba Phi cũng có cái tĩn Nam Vang cô độc. Đó là hai cái tĩn mà nhân vật mang ra sông gánh nước. Giữa đường thấy cá rô bèn dừng lại câu. Dùng một cái đựng cá, một cái lấy nước. Nói trạng rằng vì đầu cá rô to quá phải nhét mãi mới vào được.Khi về nhà, muốn lấy được cá ra phải đập vỡ cái tĩn, nên chỉ còn lại một cái! Theo truyện, cái tĩn Nam Vang khác cái tĩn trong Sông Côn mùa lũ, vì miệng to hơn.
Cả hai loại tĩn giống nhau ở chỗ cái màu da lươn của nó. Cũng giống cái tĩn ở quê tôi hồi nhỏ.

Hồi nhỏ, mấy cái tĩn luôn ở trong góc bếp. Đựng muối hạt, vài cây cải muối dưa hoặc ít cá cơm làm mắm dành cho ngày mưa gió. Có một cái chén mẻ dùng làm nắp đậy. Bữa ăn có chút rau vườn, nghiêng cái tĩn múc ít mắm cá cơm còn nguyên con, giã vào ít gừng tươi, vài trái ớt xanh, coi như xong bữa. Muối thì dùng cho nhiều mục đích hơn, nhưng muối cũng là thức chấm có giá của bọn trẻ chúng tôi mỗi lần vớ được vài quả ổi, quả khế ở đâu đó bên hàng xóm... Dưa cải có thể dùng kho với cá chuồn hay ăn riêng với cơm khoai cũng tiện... Nhờ những cái tĩn đó, mẹ tôi cả tuần mới đi chợ, dành thời gian cho việc đồng áng, nuôi một bầy con. Cũng có nhà trong làng dùng cái tĩn để giữ hạt giống sau khi trộn với tro bếp và lá xoan (sầu đâu) bằm nhỏ phơi khô để chống sâu mọt...
Một lần tôi đau bụng quay quắt, mẹ lấy ít muối sống trong tĩn đem hầm cho chín mịn. Bỏ vào chiếc khăn nhỏ, cột chặt, mẹ bắt tôi nằm ngửa, dùng mớ muối còn nóng trong khăn vải ấy chà xát khắp vùng bụng cho đến khi tôi mê thiếp đi hồi nào không biết.
Nhưng sau đó, bụng vẫn đau. Nhờ có người mách, mẹ chỉ mua một viên thuốc màu hồng bằng ngón tay, ngọt như viên kẹo bi. Tôi uống vào nửa ngày đã xổ ra một chén sán lãi. Hết đau. Nhưng mẹ vẫn nói trong chuyện khỏi bệnh kia có phần của mớ muối lâu năm trong chiếc tĩn góc bếp nhà mình...
Mang cái tĩn ở bụi tre nhà bác họ về nhà thờ, trong giấc ngủ trưa, tôi nằm mơ thấy mẹ về, cười nói vui vẻ. Nhưng bà bác dâu lại xuất hiện đầu ngõ, gọi đòi lại cái tĩn, bảo của bác “để dành” mấy năm nay. Tôi trịnh trọng giao cho bác cái tĩn và như thể đưa luôn cho bà giấc mơ vừa hiện lên nửa chừng...
3. Nhà thơ Đoàn Huy Giao, bạn tôi, là chủ nhân Bảo tàng tư nhân Đồng Đình trên lưng chừng núi Sơn Trà. Ngoài các thứ đồ gốm, sứ cổ quý giá từ văn hóa Sa Huỳnh, Chăm, Đại Việt và cả các triều đại phong kiến Trung Hoa, anh lại có hàng chục loại hũ, tĩn, bình, lọ da lươn để khắp nơi. Tôi sang chơi, nhìn mê mẩn. Biết ý, Giao tặng tôi một cái tĩn hai da (hai phần ba ở trên có men, phần dưới lộ ra màu vàng của đất sét đã nung), giống cái tĩn tôi đã trả lại cho người bác dâu hôm nọ.
Nhà nghiên cứu gốm sứ bạn tôi kể: “Chưa biết rõ cái làng nào ở Phan Thiết hoặc Khánh Hòa là nơi sản xuất loại tĩn này vì ngày nay không còn nữa, nhưng chắc chắn là nó được sản xuất dưới thời thuộc Pháp, chuyên dùng đựng cá mòi hấp nổi tiếng ở biển Phan Thiết đưa đi khắp Đông Dương bằng xe lửa, xe ngựa, ghe thuyền hồi đó; trước khi có cá mòi được đóng bằng hộp thiếc về sau”. Suy ra, tuổi thọ của những cái tĩn sành da lươn làm bằng tay này cũng ngót nghét 70-80 năm rồi không chừng, tôi nghĩ vậy.
Mỗi cái tĩn đều làm bằng tay, tuy hình dạng giống nhau nhưng cái nào cũng có những chi tiết khác cái kia, có cái thô ráp, có cái mịn màng. Có cái men kín hết bên ngoài, lại có cái chỉ vài vệt men loang lổ, tình cờ. Nhưng mỗi cái là một độc bản. Đồ thủ công vốn quý ở chi tiết đó vì nó không phải được sản xuất hàng loạt như những sản phẩm thời văn minh công nghệ.
Và càng quý hơn là qua thời gian, từ công dụng để vận chuyển cá mòi đến người tiêu dùng, ra chợ, nó lại có “chỗ đứng” trong đời sống nông thôn tùy theo mỗi hoàn cảnh của từng vùng. Sau khi đóng gói cá mòi để dễ vận chuyển, nó được người Nam Bộ dùng đi lấy nước ngoài sông rạch về nhà như người dân tộc Trường Sơn dùng quả bầu hồ lô vậy. Người miền biển Bình Định dùng đựng nước mắm nhỉ đưa lên vùng núi. Ở xứ tôi, tĩn làm hũ đựng muối, mắm trong những căn bếp nghèo... Tất cả, hình ảnh cái tĩn đều ăn sâu vào đời sống người dân quê để biến thành những chuyện cười của bác Ba Phi, của tiểu thuyết Nguyễn Mộng Giác và đi vào cả bảo tàng dân tộc học của Đoàn Huy Giao... Nó trở thành một phần đời của mỗi người...
4. Biết vậy, tôi đã lùng vào xóm quê, tìm và xin thêm được 4-5 cái nữa. Người dân quê tôi đã vất bỏ những cái tĩn cũ đâu đó trong những bụi lùm quanh vườn và dùng những thứ khác làm bằng nhựa, kim loại để thay thế trong đời sống mỗi ngày. Số phận những cái tĩn sành cũng như những vật dụng bằng tre đan giờ vắng bóng dần...
Tôi rửa sạch từng cái tĩn cũ, chưng lên kệ sách, cắm hoa đặt trên bệ cửa. Để tự dặn rằng từng cái tĩn cũ cũng là một phần đời trong tuổi thơ nghèo khó của tôi xưa...
Cuối năm, kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính có việc vào Quảng Nam và ghé chơi chỗ nhà tôi. Thấy cái tĩn màu da lươn biến thành lọ cắm mấy cành hoa Osaka đỏ thắm trên bệ cửa, ông Kính lấy làm ngạc nhiên và thích thú lắm. Tôi kể với nhà kiến trúc câu chuyện cái tĩn và sau đó, bấm bụng thỏa mãn lời đề nghị của ông: Muốn có một cái để trang trí ngay ở nhà ông ngoài Hà Nội.
Một trong những cái tĩn từ Trung Bộ ra Bắc bằng máy bay Boeing, không có những con cá mòi Phan Thiết. Ông Kính gói giấy báo mấy lượt và ôm khư khư cái tĩn lúc bước lên máy bay. Con người vẫn nói và viết để cảnh báo rằng không gian sống của những người nông dân Việt đang ngày bị phá vỡ vì sự hạn hẹp của những chủ trương chia lô xây nhà ống, chặt phá những khoảnh vườn, san lấp bao ao hồ của thiên nhiên dành tặng ấy ra khỏi tầm mắt người dân, nay ôm vào lòng cái tĩn nhỏ như một vật quý hiếm khiến tôi càng mềm lòng và cảm mến hơn...
Bình luận (0)