Anh đi vào cuộc sống, tự buộc mình phải hòa vào cuộc sống, và bằng đôi mắt hiền lành nhưng rất tinh tế, rất hóm hỉnh, anh quan sát, anh nhận xét, anh khắc sâu vào trí nhớ từng cảnh sinh hoạt, từng cử chỉ cho đến từng lời nói, từng chữ dùng của nhân dân. Những điều quan sát được, anh cẩn thận ghi vào sổ tay, những cuốn sổ tay dày cộp, ngay hàng thẳng lối như vở học sinh. Thỉnh thoảng anh mở ra, đọc đi đọc lại và suy nghĩ, suy nghĩ... Bao giờ cảm thấy thật chín muồi anh mới đặt bút viết. Và cũng không phải viết một mạch. Anh viết, xóa, chữa, tranh thủ ý kiến của anh em rồi lại chữa, lại xóa, lại viết...
(Đọc Ánh mắt của Bùi Hiển - Tuần báo Văn nghệ, 20-01-1961).
Tôi đang ở Huế thì được điện của con gái buồn bã báo tin “Bác Bùi Hiển mất rồi, bố ạ”. Vẫn biết vào tuổi đại thọ như ông, lại ốm đau nặng lâu ngày, cái chết có khi là sự giải thoát được chờ mong, vậy mà không sao tránh khỏi sững sờ đau xót. Bao nhiêu kỷ niệm dội lên trong lòng. Bởi chính ở dải đất Thừa Thiên này, cách đây 60 năm tròn, tôi may mắn cùng ông sống nhiều ngày nhiều tháng không thể nào quên nơi hậu địch. Ông là nhà văn tên tuổi, kiến văn vững chãi, lại lớn hơn gần mười tuổi, tôi là cậu phóng viên ngờ nghệch mới vào nghề, tấp tễnh văn chương, vậy mà thân thiết đến quên cả tuổi tác. Cùng nhiều bạn bè nữa, chúng tôi thật sự sống giữa lòng dân với nghĩa đầy đủ nhất của mấy từ ấy không xa bốt địch. Nhiều lần tôi cùng ông bám sát một đơn vị bộ đội thuộc trung đoàn chủ lực 101, cùng các chiến sĩ lò mò dậy từ ba, bốn giờ đêm, bố trí phục kích địch sáng sớm hôm sau có thể sục sạo càn quét, phá hoại mùa màng, đúng vào lúc mùa lúa chín rộm trên đồng. Tôi là “phóng viên mặt trận”, dù sao cũng phải cố làm việc cho xứng với cái chức danh kêu như thùng rỗng đã đành, còn ông là “phái viên Sở Thông tin Tuyên truyền liên khu” cử vào kiểm tra phong trào, căn cớ chi...? Tôi hiểu, niềm khát khao đắm mình trong thực tế để có vốn sống làm nên những tác phẩm hay sau này, đã thôi thúc ông dấn thân say sưa đến mức đi đến “vô kỷ luật” một cách tự giác, nấn ná lại vùng địch hậu đạn bom tráo trở cả năm rưỡi trời, trong khi thời hạn đi công tác ấn định sáu tháng. Khi ông trở về cơ quan, sổ lương lâu ngày đã bị cắt. Ba người bạn là nhà thơ Lưu Trọng Lư, Chi hội trưởng Văn nghệ, cùng hai ủy viên thường vụ Hoàng Trung Thông và Chế Lan Viên quyết định bổ sung luôn Bùi Hiển vào ban thường vụ, làm thường trực, cho dù ông chưa có chân trong ban chấp hành.
Thời gian lưu luyến vùng sau lưng địch đã tạo vốn cho ông lưu lại với đời tập truyện ngắn hay Ánh mắt, mà truyện đầu tiên chính là Đánh trận giặc lúa. Cũng như thời chống Mỹ sau này, đã đứng tuổi, ông vẫn hăng hái đạp chiếc xe đạp ngụy trang cành lá vào Quảng Bình, Vĩnh Linh viết ký sự tức thời. Không phải vì ông “say” chiến tranh. Giáo sư Phan Cự Đệ nhận xét: “... Có một số người cho rằng nền văn học viết về chiến tranh của ta chỉ nói có một nửa sự thật (...) Điều đó hoàn toàn không đúng khi chúng ta đọc lại tập Ánh mắt của Bùi Hiển. Cuộc chiến tranh đã hiện lên trong tác phẩm với bộ mặt tàn khốc và ác liệt của nó”.
Bùi Hiển là một trong những người thầy đầu tiên truyền nghề viết cho tôi. Tôi học ở ông sự cẩn trọng từ nhận xét, suy nghĩ, ghi chép, sắp xếp tư liệu cho đến sửa sang bản thảo dù đã coi như hoàn chỉnh. Mấy dòng đầu của bài báo này in đậm ở trên, tôi viết cách đây 50 năm, nay đọc lại càng tin mình đã học bài học tốt.
Có lẽ do hoài niệm những ngày cùng sống với nhau tại Thừa Thiên, vào tuổi 85, khi chuẩn bị cho in tinh tuyển Tác phẩm và dư luận (2003), ông bảo các con trai lục tìm bằng được bài báo cũ của bạn để in vào phần II, phần Dư luận lựa chọn dè sẻn, bên cạnh những tên tuổi như Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ, Hoàng Trung Thông, Hà Minh Đức, Vũ Tú Nam, Hoàng Minh Châu... Vâng, chắc hẳn tại ông không quên những ngày tháng cùng sống với nhau nơi xứ Huế này...
![]() Nhà văn Bùi Hiển |
Như mọi người đều biết, Bùi Hiển còn nhiều tác phẩm khác, có cuốn còn tạo âm vang lớn hơn Ánh mắt. Tên Bùi Hiển nổi bật làng văn ngay từ đầu những năm 40 thế kỷ trước với tập truyện ngắn đầu tay do Nhà Xuất bản Đời nay ấn hành. Truyện Nằm vạ in trước trên báo Ngày nay kèm lời giới thiệu thắm thiết của Thạch Lam. Khi ông tập hợp thêm các truyện đã viết, thân hành mang từ Vinh ra Hà Nội đưa nhà xuất bản thì hai nhà văn nổi tiếng của Tự lực văn đoàn là Khái Hưng và Hoàng Đạo cùng trân trọng tiếp. “Ngay từ tác phẩm đầu tay, Bùi Hiển đã đứng vững như một phong cách riêng trong dòng văn học hiện thực công khai 1940-1945. Nằm vạ có cái nhìn tươi mới, trẻ trung, lối viết giản dị với những đường nét chắc và khỏe, những cảm nhận tinh tế và một chút duyên thầm tinh tế” (Phan Cự Đệ).
Ngoài truyện ngắn là thế mạnh, Ông còn viết nhiều thể loại khác: bút ký, hồi ký, tiểu luận văn học, truyện thiếu nhi... Mảng dịch văn học của ông khá phong phú, tôi nhẩm tính chắc phải đến năm, sáu ngàn trang, gồm tác phẩm của nhiều nước: Nga, Đức, Thụy Điển, Pháp.
* * *
Nhà văn Bùi Hiển sinh tại làng Phú Nghĩa Hạ, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) năm 1919, ở “vùng Lạch Quèn, Lạch Thơi ngày đêm rì rào sóng vỗ và thoảng trong hơi gió cái vị nồng mặn của biển cả”. Thời nhỏ ông học tại Đồng Hới, Vinh. Ra trường dạy học rồi làm viên chức. Ông viết văn sớm và được dư luận chú ý ngay từ những bước đầu. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trân trọng giới thiệu cây bút trẻ Bùi Hiển tại bộ Nhà văn hiện đại (khởi in năm 1941) bên cạnh Khái Hưng, Nhất Linh, Lan Khai, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Bằng, Lê Văn Trương... Tác giả phân tích “ba truyện ngắn rất đặc sắc”, trong đó có Ma đậu “một truyện tuyệt hay”, mà “ngôn ngữ và cử chỉ của các nhân vật tạo nên một dấu ấn riêng, không ai nhầm lẫn được”.
Các nhà nghiên cứu, phê bình và bạn văn đã viết nhiều về thân thế và sự nghiệp văn chương của Bùi Hiển. Phần tôi, cuộc đời sắp xếp, ngoài những ngày sống cùng ông ở vùng địch hậu và chiến khu Thừa Thiên đầy ắp dấu ấn (tôi từng có dịp thuật lại chuyện hai anh em thoát chết trong gang tấc qua một trận máy bay Pháp bắn phá căn cứ ta ở chiến khu, trong khi mải vùi đầu đọc ngấu nghiến những cuốn sách mới toanh từ Paris vừa gửi đến qua đường nội bộ); đến khi về Hà Nội lại gần mười năm làm người hàng xóm liền kề căn hộ của ông, tại một ngôi chung cư tiêu biểu cung cách xây dựng cẩu thả, bớt xén thời bao cấp. Hai “Bác Hiển”, cả bác trai và bác gái, là những người bác thân quý của các con tôi, bác gái là người chị nhân hậu, dịu hiền của vợ tôi. Tôi càng có nhiều dịp cảm nhận sâu, ngoài phong cách làm việc, sự đôn hậu và chất nhân văn nơi Bùi Hiển. Những đêm hè oi bức, sau bữa cơm chiều, ông và tôi thường ra đứng dăm, mười phút ở ban công chung chờ làn gió mát, trước khi mỗi người trở lại với công việc của mình. Đêm nào nhìn sang cũng thấy ông làm việc mải mê tới khuya bên ngọn đèn bàn chân thấp một cách cố tình ở chiếc bàn kê sát cửa ra vào, trong khi gia đình và tất cả hàng xóm đã yên ắng. Con trai ông, nhà báo Quang Tuấn, có cùng nhận xét: “Ngọn đèn trên bàn làm việc của cha tôi thường sáng đến nửa đêm hoặc hơn. Hôm nào nó tắt khoảng mười, mười một giờ khuya thì bốn, năm giờ sáng lại được bật lên soi xuống những trang sách hoặc trang giấy”.
Vào tuổi 80, ông cho in một cuốn sách: Bạn bè một thuở. Những trang viết sâu lắng thể hiện rõ nhất chất đôn hậu của Bùi Hiển. Ông có những dòng đằm thắm về bạn bè cùng lứa: Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Trần Hữu Thung... Đối với lớp lớn tuổi hơn, ông kể lại những kỷ niệm hàm chứa cả lòng tri ân: Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Hải Triều, Ngô Tất Tố...
Là người con vùng dân chài ven biển, nhà văn Bùi Hiển có thể trạng rất tốt. Ít khi ốm đau. Những lần hiếm hoi nghe tin ông sổ mũi nhức đầu, tôi bước sang phòng ông thăm hỏi bằng câu nói vui: “Hôm nay đá đổ mồ hôi sao?”. Ông cười hiền, và ngay hôm sau đã thấy ông cặm cụi bên bàn viết với ngọn đèn vừa đủ rọi mặt bàn... Ông già cường tráng ấy hình như bắt đầu đổ bệnh không lâu sau khi người bạn đời ra đi, người bạn mà ông đã có truyện ngắn đề tặng từ năm 1939, mà ông có những dòng viết thoáng qua tưởng chừng thản nhiên mà cực kỳ thắm thiết. Sức khỏe ngày một xuống dần cho đến khi liệt giường.
Người bạn lớn của chúng tôi đã ra đi. Càng gợi càng nhớ càng thương. Bao giờ cho nguôi thương nhớ, Bác Hiển ơi!
15-3-2009

Bình luận (0)