Kiêng oai, sợ thế lực của một ông quan hay một ông nhà giàu; chớ cái thứ lính lệ hay tôi tớ của nhà giàu thì ai mà kiêng, mà sợ!". Sách "Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam" (Thanh Long - Tường Ngọc, NXB Đồng Nai, 2014) cũng thu thập câu này và giảng giống hệt nhóm biên soạn Lê Văn Đức.

Theo chúng tôi, các nhà biên soạn từ điển bỏ qua nghĩa đen cho nên đưa ra nghĩa bóng chưa chính xác. Vì "lính lệ hay tôi tớ của nhà giàu" (tức tay chân những kẻ có quyền thế) cũng đáng sợ lắm chứ! Đánh chó còn phải ngó mặt chủ nhà cơ mà! Mặt khác, câu tục ngữ cũng không chỉ được hiểu trong phạm vi hạn hẹp là chuyện quan lại và kẻ hầu người hạ.

Để hiểu đúng câu tục ngữ, phải tìm hiểu thực tế nghĩa đen, như sau:

Xưa kia, hổ (hùm) không chỉ là nỗi sợ tột cùng của cư dân vùng rừng núi mà còn lan truyền xuống tận đồng bằng. Dân gian thêu dệt nên biết bao câu chuyện khiếp đảm liên quan đến hổ. Người ta sợ hổ, thần thánh hóa hổ đến mức ngay cả khi hổ đã chết đi (và chết bởi chính bàn tay của con người) thì các bộ phận trên thân thể của nó, từ thịt, da, xương, lông, nanh vuốt… vẫn tiềm tàng sức mạnh siêu nhiên. Xương cốt hổ đem lại sức mạnh cho người ăn nó. Da hổ thể hiện uy quyền của người sở hữu nó. Móng vuốt hổ dù đã rã rời từng chiếc vẫn có thể mang lại sức mạnh thần kỳ, trấn yểm được cả tà ma, quỷ quái, bảo vệ cho người đeo nó. Dân gian còn truyền tụng rằng người bị hổ ăn thịt, không thoát được kiếp, lại dẫn hổ đi bắt người khác, sau đó mới được kẻ kế tiếp thế chỗ. Vì vậy, những kẻ giúp kẻ khác làm điều ác gọi là "trành" 倀 (hùm tinh). Thành ngữ "vị hổ tác trành" 為虎作倀 có nghĩa là giúp người làm ác là vậy.

Leopold Cadiere, học giả Pháp, trong "Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt" (NXB Thuận Hóa, 2010) đã ghi chép rất nhiều câu chuyện về nỗi sợ hổ của người Việt, sợ đến mức không bao giờ dám gọi thẳng tên "hổ", mà gọi là "thầy, ông thầy, mệ, ngài". Leopold Cadiere viết: "Hổ là con vật có thật, dẫu mang rất nhiều dấu ấn thần thiêng. (...) Trong con hổ thì cái gì cũng kỳ bí, thần thiêng, có những đặc tính diệu kỳ. (...) Râu của nó, như ta đã biết, hóa thành con thuốc độc. Vì thế, khi bắt được hổ, người ta liền thui râu nó để khỏi gây chết chóc. Beo cũng thế. Nước bọt của hổ rơi xuống đất tạo những con sâu lớn, lông lá đầy mình, gọi là sâu rọm. Chỉ cần đạp phải là đủ để mang một vết thương vô phương cứu chữa".

Khác với da, xương, lông, nanh, vuốt… hổ, vết chân hùm hay cứt hùm, có thể là dấu hiệu chứng tỏ ác thú đã từng hiện diện ở khu vực này hoặc hãy còn lẩn khuất đâu đây nhưng cũng có thể hổ đã rời đi từ "bảy đời" rồi. Lúc này, "cứt hùm" chỉ là "cứt hùm" mà thôi! Tuy nhiên, vì sợ hùm nên tất cả những gì liên quan, gợi nhớ đến hùm, kể cả thứ tầm thường, vô hại nhất là "cứt hùm", cũng trở nên đáng sợ. Bởi vậy, nghĩa bóng phải được giảng là: bị ám ảnh bởi nỗi sợ nào đó hoặc đã từng phải chịu đựng, nếm trải thì sẽ thành ám ảnh đến mức sợ tất cả những gì liên quan, nhắc nhớ, tưởng tượng đến nó, thậm chí sợ cả cái không có gì đáng sợ.

Như vậy, khác với kiểu "sợ bóng, sợ gió" (sợ một cách vu vơ, hão huyền, không có căn cứ, lý do gì để sợ), "sợ hùm sợ cả cứt hùm" là nỗi sợ có lý do. Tức là nỗi sợ xuất phát từ nỗi ám ảnh, khiếp đảm có thật về sức mạnh, sự độc ác đến từ con hổ.

Tục ngữ "Sợ hùm sợ cả cứt hùm" có khi được dùng với ý chế giễu kẻ yếu bóng vía hoặc ám chỉ sức mạnh ghê gớm của thế lực nào đó. Câu gần nghĩa: "Rắn quấn ba năm còn sợ dây thừng"; "Sợ cung, sợ cả làn cây cong"; "Sợ ong, thấy chuồn chuồn đã sợ" [Rưởi oong thầy đúm đoóng đà rưởi - tục ngữ Mường]. Theo đó, bản "Sợ cọp chớ ai sợ cứt cọp" mà nhóm biên soạn Lê Văn Đức đưa ra có thể được dùng làm tiếng chửi bọn tôi tớ, lâu la của quan lại với thái độ mỉa mai, khinh miệt, ví chúng như "cứt hùm", chứ không phải ám chỉ chúng thực sự không có gì đáng sợ.


HOÀNG TUẤN CÔNG