- "Nuôi báo cô: Báo cô: Ngày xưa, một người đàn bà không có chồng, không có con (gọi là bà cô) thường để của cải cho một người cháu nào đó. Khi người cô già, người cháu phải nuôi, tức phụng dưỡng bà, gọi là nuôi báo cô. Báo cô chính là một nghĩa cử truyền thống tốt đẹp. Nhưng ở đời cũng có những bà cô khó tính, gây phiền nhiễu cho con cháu, nên dần dần người ta không thiện chí với công việc này nữa. Ý nói: Nuôi một người mà chẳng mang lợi lộc gì cho mình cả".

Câu thành ngữ chính xác là "Nuôi bảo cô". "Bảo cô" thành "báo cô" hay "báu cô" (phương ngữ Thanh Hóa) đã phổ biến và được từ điển ghi nhận nên cũng có thể xem là không sai. Tuy nhiên, giải thích từ nguyên theo kiểu phỏng đoán, suy diễn như soạn giả lại là chuyện khác. Vậy "bảo cô" hay "báo cô" nghĩa là gì?

"Hán ngữ đại từ điển" giải thích: "Bảo cô: Quy định của hình luật thời cổ đại, phàm đánh người đến mức thương tích, quan phủ sẽ xem xét tình tiết để xác định kỳ hạn mà bị cáo phải trị liệu cho kẻ bị hại. Nếu đang trong kỳ hạn mà nạn nhân bị chết vì vết thương ấy thì bị cáo sẽ bị khép vào tội chết; còn nếu nạn nhân không chết thì bị cáo bị định vào tội đánh người gây thương tích, gọi là nuôi bảo cô".

Ở Việt Nam, "Nuôi bảo cô" cũng được đề cập trong các bộ luật thời cổ đại. Điều 272 Luật Gia Long quy định: "Phàm nuôi bảo cô, trước hết phải giảo nghiệm xem thương tích nặng hay nhẹ, đánh bằng tay chân hay vật gì khác hoặc là đánh bằng đồ nhọn, để định rõ về thời hạn nuôi bảo cô và trách cứ phạm nhân phải chữa thuốc". Điều 408 Luật Hồng Đức ghi rõ: "Nếu còn trong thời hạn nuôi bảo cô mà nạn nhân chết thì phải tội kém tội đánh chết người một bậc. Nếu đã hết hạn nuôi bảo cô hay còn trong hạn nuôi bảo cô nhưng vì nguyên cớ gì khác mà chết thì phải tội như là đánh người bị thương" ("Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn" - TS Huỳnh Công Bá, NXB Thuận Hóa, 2017).

Một số từ điển tiếng Việt xuất bản trước năm 1975 cũng ghi nhận "Nuôi bảo cô". "Đại Nam quấc âm tự vị": "Bảo cô: chịu lãnh vì tội mình. Nuôi bảo cô: chỉ nghĩa là chịu cơm thuốc mà nuôi người mình đã làm cho phải thương tích nặng". "Việt Nam tự điển" (Hội Khai trí Tiến Đức): "bảo-cô • Nuôi nấng người mà mình đã đánh bị thương <> Nuôi như nuôi bảo-cô".

Như vậy, "bảo" trong "bảo cô" có nghĩa là "nuôi nấng, chăm sóc", còn "cô" nghĩa là "tội", "tội lỗi"; "bảo cô" là tội phải bồi thường bằng hình thức cấp dưỡng cho nạn nhân.

- "Đón trước rào sau: Nhà kiểu ngày xưa thường có hai cổng. Cổng trước nhà thường mở rộng để đón khách, nhưng cổng sau chỉ để người nhà đi lại, ra vào vườn thì lại phải rào kín để tránh trộm đạo. Đón trước rào sau chứng tỏ là gia đình hiếu khách, nhưng vẫn cẩn thận chu đáo. Ý nói: Dẫn dắt lý lẽ, bằng chứng một cách khéo léo, tế nhị trước khi đưa ra điều mình cần trình bày để tránh bị người khác thắc mắc, bắt bẻ".

Soạn giả đã hiểu lầm "đón" với nghĩa chặn lại, thành "đón" với nghĩa đón rước, chào đón. "Đón trước rào sau" là một kiểu "nâng cấp" từ ghép đẳng lập "rào đón" lên thành một đơn vị thành ngữ, có tác dụng nhấn mạnh và tạo hiệu quả trong diễn đạt. Trong đó, "rào" có nghĩa là ngăn, chặn; mà "đón" cũng có nghĩa là ngăn, chặn lại. Thế nên, còn có các dị bản "Rào sau chặn trước" hay "Rào trước đón sau":

"Việt Nam tự điển" (Hội Khai trí Tiến Đức) giảng: "đón: 2 Ngăn, chặn <> Đón đường để đánh. Nói đón". "Việt Nam tự điển" (Lê Văn Đức): "nói đón • đt. Nói cách rào đón để đừng bị bắt-bẻ".

“Thành ngữ bằng tranh” quá nhiều sai sót (*): Từ “nuôi báo cô” đến “ăn bậy nói càn” - Ảnh 1.

1 trang trong sách “Thành ngữ bằng tranh”

B - Hiểu sai nghĩa từ và yếu tố Hán Việt:

- "Ăn bậy nói càn: Ngày xưa, ở các bến đò, cổng chợ, có những người làm thuê, gánh mướn, thường tụ tập đón khách để gánh thuê. Họ mang theo một chiếc đòn càn. Gọi là những người gánh càn. Họ hay cãi cọ, tranh giành việc của nhau, lại có người lừa lọc cả chủ hàng… nên mọi người có ấn tượng không tốt về người gánh càn. Từ đó, từ càn được dùng ám chỉ những hành động thô tục, càn quấy".

Giải thích như vậy là oan cho "những người gánh càn". "Càn" 乾 là một từ Việt gốc Hán. "Hán ngữ đại từ điển" giảng nghĩa thứ 6 của "càn" 乾 là: "một lai do" [沒 來 由] nghĩa là không có lý do, duyên cớ gì [無 緣 無 故 - vô duyên vô cớ].

"Nói càn" tức nói bậy, nói mà không kể gì duyên cớ, đúng sai. "Từ điển tiếng Việt" (Hoàng Phê - Vietlex) ghi nhận: "càn: "[hành động] bừa, không kể gì phải hay trái, nên hay không nên"; "càn bậy • t. [hành động] bậy bạ, bất chấp phải trái, khuôn phép".

"càn" nghĩa là không có lý do, duyên cớ gì; không kể gì phải trái nên động tác dùng cây sào, cây gậy mà gạt bỏ vật gì đó (bất kể to nhỏ, cao thấp, xấu tốt) cũng gọi là "càn". Khúc tre thô sơ mà đa năng, dùng để khiêng, gánh, gồng, lúc cần thì thành dụng cụ để càn, gạt, được gọi là "đòn càn". Tương tự, "bừa" có nghĩa là càn bậy, ẩu tả, không kể gì đúng sai, được dùng để đặt tên cho một loại nông cụ mà khi sử dụng, nó cũng càn lướt, vùi dập tất cả những gì đi qua.

Trong "Đại Nam quấc âm từ điển", mục "càn" 乾, Huình Tịnh Paulus Của giảng là: "lướt ngang, sấn ngang; càn ngang • id: không thứ tự không kể phép tắc, không kể lớn nhỏ; hổn hào, nói càn ngang; xiêu càn • nói chung lộn, không thứ lớp. Nói xiêu càn là nói không phân biệt".

Như vậy, trước khi xuất hiện cái "đòn càn" và "những người gánh càn" thì bản thân từ "càn" 乾 trong tiếng Việt đã có nghĩa là "bậy bạ", "càn bậy" rồi. 

- "Trông mặt đặt tên: ngày xưa, trẻ con sinh ra không được đặt tên ngay. Phải đến khi lớn làm lễ thôi nôi (lễ đầy năm) mới nhờ thày cúng đặt tên. Lúc đó thày trông mặt bé, đặt cho cái tên hợp với đặt điểm, tính cách của bé. Gọi là trông mặt đặt tên".

Xưa kia đa số đặt tên nôm na, xấu xí cho dễ nuôi. Nhà có chữ thì đặt tên con cái thể hiện chí hướng hoặc ước muốn của ông bà, cha mẹ. Chuyện nhờ thầy cúng "trông mặt bé đặt cho cái tên hợp với đặc điểm, tính cách của bé" nếu có cũng không phải bản chất vấn đề.

Thực ra, tục ngữ "Trông mặt đặt tên" có nghĩa là trông tướng mạo, bề ngoài có thể đánh giá được tính cách, bản chất bên trong con người. Thế nên, còn có dị bản "Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo cỗ lòng mới ngon".

(Còn tiếp)

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 3-5

HOÀNG TUẤN CÔNG