Con đường xuyên qua gành bãi dẫn ra tận cái bến đò ấy, bấy lâu nay chẳng mấy ai còn qua lại, mặc cho lau lách và hoa hoang cỏ dại mọc tràn khuất lối mòn. Vậy mà một sớm mai đầu Xuân, con đường bấy lâu đã ngủ quên trong cây cỏ ngút ngàn bỗng xôn xao vang động bước chân người về.

Hóa ra nhiều người cũng như tôi, thay vì xe máy cứ vi vu lướt gió chạy qua cầu, rồi cứ bon bon theo những lối bê-tông tăm tắp phẳng phiu về đến tận ngõ thôn xóm các làng quê bên kia sông thì tất cả lại thích thú bộ hành du Xuân theo lối lênh đênh đò giang sông nước. Thực ra cái bến đò xa xưa ấy cũng đã lở xuống sông sâu tự bao giờ và con đò cũng đã gác mái ngủ yên cùng dĩ vãng. Họa hoằn lắm vào dịp Tết, bọn trẻ trong làng mới lấy mấy chiếc thuyền con dùng để đánh bắt cá ven bờ chèo chống qua đoạn sông cạn để vừa đưa đón khách về quê ăn Tết vừa có thêm chút thu nhập.

Chưa vội lên thuyền qua sông, tôi lang thang trên cồn cát trắng mênh mông trải dọc theo gành bãi. Dấu vết nào của tuổi thơ tôi còn phong kín dưới mấy lớp cát bồi. Cát trắng ơi, cát trắng! Tôi cúi xuống vốc từng nắm đầy trong tay gieo vào trong gió, vu vơ đọc lầm thầm mấy câu thơ như một phản xạ bật ra từ vô thức: Cát trắng tự bao giờ mênh mông đến thế/ Mà trong từng hạt trĩu niềm dâu bể.

Thương nhớ tằm tang - Ảnh 1.

Có lẽ chẳng riêng gì tôi, mà dường như bất cứ ai ở mọi vị thế cuộc đời, hễ có dịp đùa chơi với cát, là rất dễ thơ mơ đến quên tuổi tác. Hình như cát trắng mịn màng tinh khôi kia luôn chất chứa một thứ diệu lực siêu nhiên nào đó, có khả năng ban phát cho con người sự hồn nhiên thơ dại. Cứ nhìn quang cảnh cái cồn cát trên bến đò sớm mai này thì rõ. Người thì thả mình nằm hát hò vô tư trên cát, kẻ thì như trẻ con rượt đuổi reo vui tung cát vào nhau. Vui nhất là bọn con nít, chúng chạy ùa ra mép nước vốc cát lên xây đắp thành quách lâu đài, mặc tình cho áo quần mới sũng ướt. Cái bến đò cổ độ lãng quên hiu hắt trong gió lạnh từng bấy lâu, bỗng sớm mai này trở thành nơi trút gửi bao niềm xúc động, vang vang tiếng nói cười như một cuộc hội hè mùa Xuân bên sông chẳng ai hẹn trước.

Nay du Xuân qua bến xưa, riêng tôi còn ấp ủ một hoài vọng. Đấy là những tín hiệu đánh thức cả một vùng đất từng nổi tiếng nghề trồng dâu nuôi tằm đã bị quên lãng mấy chục năm nay. Chẳng phải tôi tham công tiếc việc giữa ngày đang Tết. Nhưng từ khi biết được một công ty của Mỹ khởi xướng dự án khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm trên vùng đất Đại Lộc, từ đấy cái vùng đất phù sa màu mỡ trên đôi bờ sông Vu Gia luôn ám ảnh tôi về cái thời huy hoàng nhất, mà dấu vết còn lưu lại trong ca dao: Con tằm Đại Lộc xe tơ/ Bãi dâu Đại Lộc lờ mờ bên sông/ Nào cô buôn thị bán hồng/ Đò qua Đại Lộc tằm (đầy) nong thấy thèm. Cho dù dự án khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm hãy còn trong giai đoạn thí nghiệm nhưng ai cấm một giấc mơ bao giờ.

Đứng nhìn cả một vùng gành bãi nối tiếp xanh ngút ngát, ửng sáng nổi bật trên cái nền xanh nõn mượt ấy là những hoa đậu phụng, hoa dưa, hoa mướp... lấm tấm vàng phơi trong nắng mai. Chỉ bấy nhiêu sắc Xuân mơn mởn đó thôi, đủ cắt nghĩa cho người ta hiểu vì sao người đất ba châu đã đúc kết nên thành ngữ: "Sào đất ba châu bằng mẫu ruộng đồng". Một cách so sánh như thế không chỉ nhằm nói lên giá trị vật chất, mà còn là thể hiện sức sống tinh thần xiển dương cái đẹp của những con người xứ tằm tang. Ngay trên xứ sở này, bạn xây về hướng nào ta cũng bắt gặp bốn bề ca dao bát ngát. Tiếng quay tơ, tiếng kéo sợi, tiếng thoi đưa khung cửi dệt, cho đến nương dâu nong tằm..., mọi sự vật đều được ký thác tâm tình, gửi gắm ước mơ: Tằm ơi say đắm nơi đâu/ Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn. Và rồi càng lãng mạn hơn nữa: Chiều chiều mang giỏ hái dâu/ Hái dâu không hái, hái câu ân tình.

Tôi cũng chẳng rõ cho lắm cái tâm hồn chất ngất hương đồng cỏ nội của tôi có còn được chút nào lãng mạn, đẹp đẽ như thế. Chỉ có điều, đã mấy chục năm xa quê, đất đai xứ sở này cũng trải qua bao lần biến dịch lở bồi và cái nghề ươm tơ dệt lụa trồng dâu nuôi tằm của làng tôi cũng đã khuất lấp sâu dày mấy lớp thời gian. Ấy vậy mà những ca dao câu hò vẫn ngọt ngào như làm lộng lẫy thêm cái thiên đường ký ức của tôi từng ngày. Đôi ta như thể con tằm/ Cùng ăn một lá cùng nằm một nong/ Đôi ta như thể con ong/ Con quấn con quít con trong con ngoài.

Thả mình đánh rơi trên cồn cát mịn màng. Chỗ tôi nằm đây là đỉnh cái cồn cát Bồn Bồn, nơi ngày xưa người ta dựng lên những dãy trại dài, vừa làm buồng nuôi tằm vừa làm nơi ăn ở. Chung quanh cồn cát này còn bao nhiêu xứ đất xanh thẳm ngàn dâu: Hòa Thạch, Đại Hòa, Nam Giang, Phương Trung... Dường như cái trí nhớ đầy khói của tôi bây giờ, trước một thế giới tràn ngập những diệu âm giữa ngày Tết, chợt hóa thành nơi trẩy hội của vô vàn ngọn gió Xuân, mà mỗi thanh âm là một vang hưởng lấp lánh cung bậc. Như một thứ hồi quang vĩnh cửu của đất.

Tiếng của bọn trẻ gọi giục tôi xuống đò. Đoạn sông này xưa là bến đò Lê. Qua bờ bên kia là Cồn Sậy rồi tới Cựu Thị. Cựu Thị có nghĩa là chợ xưa - cái chợ của làng cổ Phường Đông, một thời sầm uất náo nhiệt nhất cả vùng. Đây là nơi giao thương buôn bán các loại hàng hóa từ miền biển chở lên theo những chuyến đò dọc, cùng với nhiều mặt hàng của người địa phương sản xuất làm ra như: vải sợi, tơ lụa, thuốc lá, đường mía... Người Hoa ở Hội An cũng sớm có mặt, lập nên những dãy phố chợ ở đầu cảng sông để tiếp nhận hàng hóa. Dấu vết trăm năm của một thời huy hoàng, bây giờ chỉ còn lại ít dấu vết gạch đá vỡ vụn vương vãi bên bờ vực sông sâu.

Ngồi trên con đò nhỏ qua sông, mấy anh bạn trẻ kẻ ngồi đằng mũi, người ngồi bệt xuống khoang thuyền, hào hứng nghe tôi kể chuyện quê quán xưa mà mặt cứ nghệch ra như nghe... cổ tích. Hóa ra cái làng cổ Phường Đông thời tằm tang xa xưa ấy còn giàu có hơn gấp bội phần cái làng Phường Đông điện đóm hiện đại như bây giờ. Ngày xưa từ biển đến tận đầu nguồn, nước chảy trong xanh, tôm cá đầy sông, vườn tược cây cối đôi bờ bốn mùa tốt tươi hoa trái, nhất là ngàn dâu xanh tưởng như bất tận đến chân trời. Thế mà bây giờ, mới ngày đầu mùa Xuân, dòng sông đã đục ngầu chảy lừ đừ cạn trơ cả đáy.

Để bầu không khí của buổi xuất hành đầu năm trong xanh niềm hy vọng, tôi chuyển câu chuyện qua dự án khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm trên vùng đất dọc theo đôi bờ dòng Vu Gia này. Đáp lời tôi, hay thả giấc mơ trôi trên sông dài mà anh bạn trẻ ngồi phía mũi con thuyền cất giọng véo von: Một nong tằm là năm nong kén/ một nong kén là chín nén tơ/ Thương em... chín đợi mười chờ...!

NGUYỄN NHÃ TIÊN - ảnh võ trang