Năm ấy là năm đầu tiên huyện tôi có trường cấp 2 thứ hai. Trước kia, cả huyện mới có một trường cấp 2. Tôi học lớp 6A Trường cấp 2 Hiệp Hòa, Vũ Thư, Thái Bình (trường mới).

Cả xã chỉ có vài ba học sinh cấp 2 thôi. Chúng tôi thường cuốc bộ đi học mặc dù nhà tôi cách trường đến mười cây số. Tôi học khá. Riêng môn văn, thầy giáo bảo tôi có năng khiếu. Tôi chỉ biết rằng mình mê môn văn nhất. Môn văn cuốn hút tôi, nhiều khi chiếm cả thời gian dành cho các môn khác. Tôi mê tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, vớ được cuốn truyện, tập thơ nào là đọc ngấu nghiến. Khi bế em, khi cưỡi trên mình trâu, kể cả khi đi câu cá rô, cá chuối..., hầu như lúc nào tôi cũng kè kè cuốn truyện, tập thơ ở bên người. Thời ấy, sách cực kỳ hiếm. Về tiểu thuyết, tôi chỉ biết có "Vượt Côn Đảo" của nhà văn Phùng Quán, "Sông Đông êm đềm" của M.A.Sholokhov, "Những người khốn khổ" của Victor Hugo, "Bước đường cùng" của Nguyễn Công Hoan, "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng… Truyện ngắn và thơ lại càng hiếm. Tôi chỉ được đọc những truyện đăng lẻ hoặc những bài thơ đăng lẻ ở một tờ báo, một tạp chí nào đó may mắn từ tay một thầy giáo làng (thầy Trính, ở làng tôi).

Thầy Mậu dạy văn, cũng là thầy giáo chủ nhiệm lớp tôi. Thầy luôn luôn gần gũi bọn học trò. Nhờ có thầy thường xuyên khích lệ, môn văn của tôi thường được điểm cao. Thầy còn động viên tôi làm thơ. Và thế là một số bài văn vần của tôi ra đời từ đấy. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một ít. Đọc lại những câu ấy, giờ đây tôi thấy rõ đấy chỉ là những câu văn vần mà thôi. Thế nhưng, thời ấy, làm được những câu văn vần như thế đã là giỏi. Bạn bè cứ trêu tôi là "thi sĩ".

Bài dự thi cuộc thi viết Người Thầy kính yêu: Bóng thầy chiều hôm ấy - Ảnh 1.

Tác giả chụp cùng những người bạn. Từ trái qua: Triệu, Tiến, Trinh, Giang - lớp 7C Trường Phổ thông cấp 2 Thư Trì, năm 1961

Quê tôi là một miền yên tĩnh nằm phía cuối huyện. Hệ thống thủy nông, thủy lợi lúc bấy giờ hầu như không có gì. Đồng quê tôi thuộc loại trũng nhất, như là một cái rốn của huyện. Từ ngày hòa bình năm 1954 đến năm ấy, hầu như năm nào cũng cứ đến tháng 6, tháng 7 âm lịch, cả huyện phải đổ dồn về xã tôi chống úng, cứu mạ, cứu lúa. Nhà tôi nghèo lắm. Bố mẹ tôi tảo tần quanh năm mà không đủ nuôi 6 miệng ăn. Tôi là anh cả. Dưới tôi còn 3 đứa em lít nhít. Mẹ tôi lại yếu đau luôn. Bố tôi quanh năm vật lộn với hòn đất, lặn hụp hết Đồng Táy, Đồng La, lại Con Cóc, Gồ Cay, Ông Moi, Hạ Bạch, Đồng Gìm… chỉ mơ có một vụ được mùa nhưng mấy khi có được. Đồng đất liên miên thất bát. Cái đói, cái nghèo làm cho lũy tre xanh xơ xác, thưa vắng bóng cò.

Thế là tôi quyết định bỏ học. Tôi nói dối bố mẹ là trường đang sửa chữa, phải nghỉ học một thời gian. Bố mẹ tôi tưởng thật. Thế là từ hôm ấy, tôi ra đồng đi cuốc với bố.

Hôm ấy là ngày thứ tư tôi bỏ học. Bố con tôi đang cuốc ruộng ở cánh đồng Gìm. Cánh đồng tháng mười vừa mới gặt xong. Nhà nào có trâu bò thì cày. Nhà nào không có trâu bò thì phải cuốc. Nhiều lúc cuốc nảy lên, tay tôi phồng rộp, đau rát. Nhìn về phía làng, tôi thấy làng tôi như một con thuyền vĩ đại đang thả neo trên cánh đồng để giăng bắt những vụ chiêm mùa no ấm. Lũy tre xanh bao bọc lấy làng chạy dài ra mãi tít chân đê...

Bỗng xa xa bên lũy tre làng có bóng áo trắng đang vội vã đi ra cánh đồng. Rõ rồi! Người ấy mặc áo trắng, đội mũ. Mà trên vai lại còn vác một cái cuốc nữa? Lạ nhỉ? Ai thế nhỉ? Người làng tôi có ai mặc áo trắng đâu? Chỉ áo nâu, áo gụ, áo xanh là cùng! Đồng làng tôi có ai đội mũ đâu? Chỉ toàn đội nón lá, mà thường là nón cũ, nón tuột vành, nón rách tả tơi. Thế thì là ai nhỉ? Mà lại vác cuốc?... Người ấy đang đi về phía bố con tôi...

- "Ô kìa, thầy Mậu!".

Tôi ngỡ ngàng reo lên. Thật không ngờ!

Bố con tôi dừng cuốc, chạy lên bờ chào thầy và mời thầy về nhà. Nhưng thầy nhất quyết không về. Thầy xắn quần lội ngay xuống ruộng cuốc với bố con tôi. Vừa cuốc, thầy vừa nói chuyện với bố. Thầy nói rằng tôi học khá, riêng môn văn học giỏi và khuyên bố tôi tiếp tục cho tôi đi học. Bấy giờ bố tôi mới biết là tôi đã nói dối. Tôi xin lỗi bố, xin lỗi thầy, hứa sẽ tiếp tục đến lớp và học tập thật tốt.

Chiều hôm ấy, bố mẹ, tôi và các em tôi cố giữ thầy ở lại ăn cơm với gia đình. Nhưng thầy nhất quyết từ chối. Thầy mở cặp lấy ra 2 quyển vở và một cây bút máy Trường Sơn đặt vào tay tôi, dặn dò: "Ngày mai em tới lớp nhé!". Tôi lóng ngóng đưa 2 tay ra nhận... Nước mắt tôi trào ra, giàn giụa… Tôi khóc nức nở như một đứa con nít…

Thầy vỗ vai tôi bảo: "Nín đi em, cố gắng nhé!".

Thế rồi, thầy đi. Bố mẹ tôi, anh em tôi cứ đứng nhìn mãi theo cái bóng xe đạp cà tàng của thầy cứ cút kít, cút kít vang mãi trong buổi chiều hoàng hôn lộng gió.

Quá nửa thế kỷ qua rồi, bao nhiêu vinh quang và cay đắng, bao nhiêu là thăng trầm trong cuộc sống, bao điều tôi không thể nào nhớ nổi... nhưng hình ảnh người thầy gầy gò gò lưng đạp chiếc xe đạp tàng trong buổi chiều hoàng hôn lộng gió và tình yêu của thầy thì cứ còn mãi, còn mãi trong ký ức tôi, không bao giờ phai mờ… 

Bài dự thi "Người Thầy kính yêu" gửi qua email: nguoithaykinhyeu@gmail.com hoặc nguoithaykinhyeu@nld.com.vn; nếu gửi bản viết tay về Tòa soạn Báo Người Lao Động (123-127 Võ Văn Tần, phường Võ Thị Sáu, quận 3, TP HCM) thì ngoài bì thư ghi rõ: Bài dự thi "Người Thầy kính yêu".

Về thể lệ cuộc thi, mời bạn đọc xem trên báo điện tử, tại nld.com.vn.

ĐƠN VỊ ĐỒNG HÀNH

Bài dự thi cuộc thi viết Người Thầy kính yêu: Bóng thầy chiều hôm ấy - Ảnh 3.
Phạm Minh Giang