NHỮNG ĐÓA HỒNG NOBEL 2009

Hiện tượng Elinor Ostrom

Tin mới

15/10/2009 00:36

Mùa giải Nobel 2009 đã kết thúc hôm 12-10 với một bất ngờ thú vị. Trong hai người Mỹ đoạt Giải Nobel Kinh tế năm nay – Giải Nobel sau cùng - có một phụ nữ, bà Elinor Ostrom. Hơn nữa bà Elinor không phải là nhà kinh tế mà là một nhà chính trị học. Những công trình nghiên cứu của hai người cũng nằm ngoài thị trường, một lĩnh vực xưa nay chưa được chú trọng đúng mức

Kể từ năm hình thành (1969), Giải Nobel Kinh tế – tên chính thức là giải thưởng của Ngân hàng Hoàng gia Thụy Điển để tưởng niệm Alfred Nobel – thuộc về thế giới của đàn ông. Trong 30 năm qua đã có 62 vị được vinh danh. Năm nay, ban giám khảo đã tỏ ra táo bạo chưa từng thấy: tưởng thưởng một nhà chính trị học thuộc phái đẹp.

Tuy nhiên, theo nhận định của tạp chí kinh tế Pháp Les E'chos, ban giám khảo chỉ táo bạo một nửa vì bà Ostrom, 75 tuổi, phải chia một nửa giải thưởng trị giá 10 triệu kuron (tương đương 1 triệu euro hay 27 tỉ đồng) cho một người đồng hương là nhà kinh tế Oliver Williamson, 77 tuổi.


Tiến sĩ Elinor Ostrom. Ảnh: AP

Thật ra sự táo bạo thật sự của ban giám khảo không chỉ giới hạn ở chỗ lần đầu tiên tôn vinh một người phụ nữ mà là lần đầu tiên tôn vinh những công trình nghiên cứu kinh tế nằm ngoài thị trường. Ai cũng biết ban giám khảo Giải Nobel Kinh tế xưa nay nổi tiếng yêu thích thị trường. Thế nhưng thị trường không thể giải thích được mọi chuyện. Nó chưa đủ khả năng để làm chuyện đó.

 
Bà Elinor Ostrom là người đi tiên phong chứng minh rằng các hội những người tiêu dùng đã quản lý tài sản công hiệu quả như thế nào. Minh chứng này đã phá vỡ một định kiến tồn tại bấy lâu nay, theo đó, tài sản công không được quản lý tốt. Vì vậy, phải giao cho chính quyền hoặc thị trường quản lý nó. Đó là điểm đặc sắc của những công trình nghiên cứu của bà Ostrom.


Khổ vì thiếu nước và tật nói cà lăm


Trong cuộc đời bà Ostrom có hai sự kiện quan trọng định hướng sự nghiệp và làm nên tính cách của người phụ nữ đầu tiên trên thế giới đoạt Giải Nobel Kinh tế. Sự kiện thứ nhất liên quan đến nước. Sinh ra và lớn lên ở thành phố Los Angeles, bang California, trong thời kỳ nước Mỹ trải qua cuộc đại khủng hoảng kinh tế và châu Âu sắp sửa bước vào thế chiến thứ hai tàn khốc, cô bé Ostrom không bao giờ quên nỗi khổ sống thiếu nước. Đó là một sự kiện khắc sâu trong tâm khảm của bà.


Nước sinh hoạt ở vùng bà Ostrom sinh sống trở thành một món hàng hóa xa xỉ, đắt đỏ. Hằng ngày bà chứng kiến mẹ vất vả như thế nào trong việc tìm nước để giữ khu vườn nhà luôn tươi tốt. Và như thế, ngay từ lúc còn bé, thông qua thực tiễn khu vườn nhà mình, bà Ostrom đã phát hiện phương thức quản lý nước hiệu quả nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung.


Sự kiện thứ hai là cái tật nói cà lăm rất nặng. Đi học, bà đã phải đấu tranh gian khổ để vượt qua khiếm khuyết này. Ông thầy xếp bà vào nhóm học sinh ngâm diễn thơ ca và đọc diễn văn để giúp bà tự chữa tật. Mặc cho bạn bè chê cười, bà lần hồi vượt qua tật xấu và không những nói năng lưu loát mà còn trở thành một trong những học sinh trung học có tài ứng khẩu trong những cuộc thảo luận.


Bà Ostrom kể lại: “Thảo luận là một việc kỳ diệu mà tôi học được ở trường trung học”. Từ đó, bà thích những cuộc thảo luận trong trường cũng như ở nhà. Một trong những đề tài thảo luận bà yêu thích là các chính sách của nhà nước. Bà không ngần ngại tranh luận với mẹ và thỉnh thoảng làm cho mẹ giận đỏ mặt vì có quan điểm khác mẹ.

Với tố chất đó, vào đại học bà chọn ngành chính trị học. Bà Ostrom chỉ học một trường đại học là California Los Angeles (UCLA) và một môn là khoa học chính trị từ cử nhân (1954), thạc sĩ (1962) đến tiến sĩ (1965). Nhưng bà không học liên tục. Sau cử nhân, bà làm trợ lý giám đốc nhân sự 3 năm ở một công ty luật tại Boston. Rồi bà trở lại UCLA học tiếp. Rồi đi làm và tiếp tục học.


Cả đời bà Ostrom chỉ nghiên cứu lĩnh vực tài nguyên công cộng. Những công trình nghiên cứu của bà tập trung vào mối quan hệ tương tác giữa con người và các hệ sinh thái sao cho tài nguyên công cộng- bao gồm rừng, thủy sản, mỏ dầu, đồng cỏ dành cho súc vật và các hệ thống thủy lợi - phát triển một cách bền vững.


Những nghiên cứu hợp thời


Những nghiên cứu của bà Ostrom rất phù hợp với thời đại chúng ta. Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay một phần là do những khiếm khuyết của thị trường. Các công trình nghiên cứu của bà Ostrom (và của ông Williamson) đã làm sáng tỏ và đưa ra các giải pháp san lấp những khiếm khuyết đó. Theo nhận định của Timothy Van Zandt, giáo sư Trường Đại học Quản trị INSEAD, thế giới đang đứng trước vấn nạn khai thác đến cạn kiệt tài nguyên biển và khí hậu trái đất ấm lên. Những nghiên cứu của bà Ostrom rất có ích vì nó chỉ ra cách quản lý tốt nhất tài nguyên công cộng mà không hủy diệt môi trường sống.


Trong mấy thập niên qua, những công trình nghiên cứu của bà Ostrom chưa được đánh giá đúng mức. Giải Nobel Kinh tế lần này đã tưởng thưởng xứng đáng công lao của bà. Bà Martine Antona, nhà kinh tế học ở Trung tâm Hợp tác quốc tế nghiên cứu phát triển nông nghiệp, ca ngợi: “Bà Ostrom là người đầu tiên nhấn mạnh đến việc cần thiết phải quản lý tập thể những tài nguyên công cộng không thuộc về cá nhân nào như nước, rừng, cá...”.


Nói cách khác, thông qua những trường hợp cụ thể, bà Ostrom chứng minh rằng các tổ chức tập thể như hội ngư dân hoặc hội những người khai thác gỗ có thể khai thác tốt nhất các tài nguyên công cộng mà không làm tổn hại chúng bằng cách tái tạo chúng. Một công ty tư nhân hay một đạo luật của chính quyền, trong thực tế, thường không thể làm tốt hơn họ. Kinh nghiệm này, bà Ostrom thu thập được khắp thế giới từ California đến Nepal.

Ngoài những công trình nghiên cứu khoa học, bà Ostrom còn là tác giả của nhiều cuốn sách viết về lý thuyết tổ chức, khoa học chính trị và hành chính công.

Thảo Hương
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 

Hoặc nhập thông tin của bạn

TIN MỚI