Kể từ Đoàn Dự thiền vị nhường ngôi, truyền được 5 đời thì vó ngựa quân Nguyên Mông đã vang động Đại Lý. Càng về sau, các vua họ Đoàn mất dần quyền lực thực tế, những quý tộc người Bạch mà tiêu biểu là họ Cao lấn lướt chuyên quyền và không ngừng thôn tính lẫn nhau, mâu thuẫn dân tộc ngày càng gay gắt, Đại Lý ngày càng suy yếu.

Tham ngộ Phật pháp

Năm 1147, con của Đoàn Hòa Dự là Đoàn Chính Hưng kế vị, tức Chính Khang hoàng đế. Trong thời gian chấp chính xây chùa lập tháp, đúc tượng in kinh, thi ân bố đức, dân chúng an cư. Tại vị được 25 năm, một hôm Chính Hưng bỗng bảo quần thần rằng: “Ta từ nhỏ tin Phật, cung kính tam bảo, lo việc chính sự bất giác đã mấy chục năm, nay nên quay về thôi”.

Hôm sau bèn truyền ngôi cho Trí Hưng, còn mình xuất gia ở Vô Vi Tự, lễ Quảng Hoằng pháp sư làm thầy, đạo hiệu Dịch Trường, truyền giảng Quan Âm đại bi pháp môn.

Năm 1172, Đoàn Trí Hưng kế vị (tức Nam Đế, Nhất Đăng đại sư trong tiểu thuyết Kim Dung). Theo “Vô Vi Tự Truyền đăng lục”, Đoàn Trí Hưng là đại đệ tử của Quảng Hoằng pháp sư, được chân truyền 24 lộ Luân kiếm; tuy không xuất gia nhưng sùng tín Phật, ngày đêm lễ bái, xây 60 ngôi chùa...

Bản đồ vương quốc Đại Lý cổ đại Ảnh: INTERNET

Năm 1200, con Đoàn Trí Hưng là Đoàn Trí Liêm kế vị, tức Anh Tông Hanh Thiên hoàng đế. Năm 1205, em của Đoàn Trí Liêm là Đoàn Trí Tường kế vị, tức Thần Tông hoàng đế. Năm 1238, sau 33 năm tại vị, Đoàn Trí Tường nhường ngôi cho con là Đoàn Tường Hưng, còn mình xuất gia ở Vô Vi Tự, pháp danh Vĩnh Huệ, chuyên tâm thiền tu để cầu khai ngộ.

Vĩnh Huệ pháp sư bế quan tu tập nhưng đã già đến nơi mà không thể đại ngộ, lòng nóng như lửa đốt, sau bị bệnh nặng, không ăn uống gì được, thị giả lo lắng mới xuống núi báo với trụ trì để lo hậu sự. Một đêm, trong cơn mơ màng, pháp sư thấy Quan Âm đại sĩ đến bảo rằng: “Ngươi chí tâm cầu đạo, rất là tinh tiến nhưng phải biết rằng Phật pháp là trung đạo, tham thiền cũng vậy, giống như dây đàn, căng quá thì đứt, chùng quá thì câm”.

Sư tỉnh dậy, nhớ lời đại sĩ, vô cùng thú vị, bệnh nặng dần khỏi. Sau tọa thiền, qua 3 ngày thì đại triệt đại ngộ. Ba tháng sau sư thị tịch, tương truyền lúc hỏa thiêu, hào quang bốc cao, lưu lại xá lợi hơn 400 viên, đặt trong hộp vàng thờ trong chùa.

Oanh liệt chốn sa trường

Suốt mấy trăm năm đất nước yên ổn, không có chiến tranh, Đại Lý gần như đứng ngoài cuộc trong đấu trường đẫm máu giữa các triều Tống, Liêu, Kim, Tây Hạ và Mông Cổ.

Nhưng từ lâu, chiến lược của Thành Cát Tư Hãn là dùng kỳ binh tiêu diệt Đại Lý trước rồi đánh bọc lên phía Bắc, hai mặt giáp công mà xóa sổ Nam Tống, thống nhất Trung Nguyên. Nhưng Đại Lý ở địa thế hiểm trở, lại có 2 sông lớn là Đại Độ Hà và Kim Sa Giang ngăn chặn nên một đội quân Mông Cổ chỉ đến thành Thiết Kiều, sông Kim Sa thì phải quay về.

Năm 1234, sau khi con trai thứ ba của Thành Cát Tư Hãn là Oa Khoát Đài diệt nước Kim liền lập kế hoạch tiến đánh Nam Tống mà tiền đồn là Đại Lý. Năm 1244, 20 vạn quân Mông Cổ vượt Đại Độ Hà, tấn công Đại Lý từ phía thượng du sông Kim Sa nhằm chiếm Vân Nam rồi tiến vào Tứ Xuyên.

Vua Đại Lý lúc đó là Đoàn Tường Hưng sai đại tướng Cao Thái Hòa - em của Tướng quốc Cao Thái Tường - xuất quân kháng cự. Hai bên giao chiến ác liệt tại Cửu Hòa (nay là huyện tự trị dân tộc Nạp Tây, tỉnh Vân Nam).

Trong “Cuộc chiến Cửu Hòa” này, hai bên đều tổn thất nặng nề, quân Mông Cổ phải rút về còn bên Đại Lý thì các tướng Cao Thái Hòa, Cao Phúc Thiện, Cao Minh Thắng, Cao Chính Vận... tử trận. Triều đình cho xây một Phật tháp để siêu độ cho tướng sĩ vong mạng nơi sa trường, di tích tháp Bạch Vương ngày nay vẫn còn. Nhà Tống đã cho sứ giả sang ai điếu.

Quân Mông Cổ không bỏ cuộc. Năm 1253, Hốt Tất Liệt phụng mạng Mông Ca dẫn 10 vạn đại quân xuất phát từ cao nguyên Mông Cổ hành binh chớp nhoáng, nhân mùa đông vượt qua Hoàng Hà, Diêm Hạ, Túc Quan, đến Lục Bàn - Ninh Hạ, Lâm Thao - Cam Túc, Tùng Phiên - Tứ Xuyên. Tại đây, quân Mông Cổ chia làm 3 cánh quân tấn công Đại Lý: đích thân Hốt Tất Liệt dẫn trung quân, Ngột Lương Hợp Đài dẫn cánh phía Tây, Dã Chỉ Liệt dẫn cánh phía Đông. Hốt Tất Liệt đưa quân vượt qua Đại Độ Hà, tiến đến sông Kim Sa, dòng nước quá hung dữ nên binh lính phải dùng “cách nang” (da dê thuộc nguyên con) làm phao để vượt sông.

Đến Lệ Giang - Vân Nam, Hốt Tất Liệt ra lệnh cấm giết hại dân chúng, phái sứ giả chiêu hàng. Nhưng vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí và tể tướng là Cao Thái Tường kiên quyết không hàng, giết chết sứ giả.

Hốt Tất Liệt lại cho sứ đến chiêu hàng, 3 lần đều không thành, bèn cho lập một đội dũng sĩ cảm tử vòng lên đỉnh Thương Sơn. Đội quân “10 người chết hết 9” này cuối cùng đã hoàn thành sứ mệnh, từ đỉnh núi đánh xuống giữa kinh thành như người trời xuống.

Đoàn Hưng Trí và Cao Thái Tường xuất quân kháng cự nhưng đại bại phải rút chạy. Quân Mông Cổ bắt được Cao Thái Tường ở thành Diêu Châu, đem chém đầu thị chúng. Trước khi chết, Thái Tường than rằng: “Vận họ Đoàn đã tận, là trời khiến như thế, kẻ làm tôi chết vì vua ấy là bổn phận”.

Đoàn Hưng Trí xuất bôn về thành Thiện Xiển sau 1 năm thì bị Ngột Lương Hợp Đài dẫn binh tấn công. Thành Thiện Xiển bị hạ, Đoàn Hưng Trí chạy về Nghi Lương thì bị bắt. Vương triều Đại Lý diệt vong.

22 đời vua, trị vì 316 năm

Trong “Thần điêu hiệp lữ”, đoạn giữ thành Tương Dương, Kim Dung viết rằng: “Bây giờ nước Đại Lý do Đoàn Hưng Trí thống trị, là cháu tằng tôn của Nhất Đăng đại sư, lên làm vua lấy hiệu là “Thiên Định Hiền Vương”, tuổi còn nhỏ, mới đăng quang vừa được 2 năm thì mất nước. Nhờ có Võ Tam Thông và Chu Tử Liễu phất cờ hợp với Tứ Thủ Ngư cứu được nước nhà khỏi họa diệt vong”. Kỳ thực, Đoàn Hưng Trí chỉ bôn tẩu trong 1 năm là bị bắt, kết thúc vương triều Đại Lý với 22 đời vua, kéo dài 316 năm.

THIÊN TƯỜNG