Đây là một nguy cơ vô cùng lớn cho an sinh xã hội. Tuy nhiên, người lao động (NLĐ) Việt Nam thì vẫn bình chân như vại.

Nghỉ việc vì những lý do trời ơi

Trong vòng 5 năm trở lại đây, trước sự mở rộng của ngành sản xuất công nghiệp trong nước và sự đầu tư mạnh của các doanh nghiệp nước ngoài (FDI), nên nhu cầu lao động trực tiếp là rất lớn, dẫn đến một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ, những người nông dân đã bỏ ruộng để trở thành công nhân trong nhà máy.

Do xuất thân từ nông dân, nên trình độ văn hóa của dòng người lao động (NLĐ) này phần lớn chỉ tốt nghiệp THCS, hoặc THPT, thậm chí nhiều người không có tấm bằng nào vì bỏ học giữa chừng.Khi những người nông dân này quyết tâm bỏ ruộng để vào nhà máy làm việc, thì trình độ văn hóa phổ thông không phải là vấn đề gì lớn. Nhưng khó khăn nhất đối với cả người tuyển dụng lao động và NLĐ lại là tay nghề và kỹ năng lao động công nghiệp, cũng như ý thức lao động công nghiệp. Do có lỗ hổng lớn trong đào tạo, mà các doanh nghiệp bỗng dưng phải đưa vai ra gánh một gánh nặng lẽ ra không phải của mình, đó là đào tạo nghề cho NLĐ. Nếu không chấp nhận đào tạo NLĐ, thì nhà máy được đầu tư núi tiền cũng sẽ trống trơn không có ai làm việc.

Thích thì đi làm, không thích thì nghỉ - Ảnh 1.

75% lao động trong lĩnh vực dệt may chưa qua đào tạo

Những NLĐ xuất thân từ nông dân, đến với doanh nghiệp giống như "tờ giấy trắng". Không kiến thức nghề, không kỹ năng nghề, không ý thức lao động công nghiệp. Các doanh nghiệp (DN) phải bỏ chi phí đào tạo nghề cũng như kỹ năng lao động và ý thức công nghiệp cho NLĐ mà mình tuyển dụng. Vì lẽ đó, DN phải chịu lỗ trong thời gian đào tạo này. Tiếp đó, khi NLĐ bắt đầu làm việc được, thì chất lượng và năng suất rất thấp. DN vẫn phải trả lương đảm bảo cuộc sống cho NLĐ nên tiếp tục lỗ. Theo một vị lãnh đạo một Tổng công ty may lớn ở miền Nam, thì doanh nghiệp này thường phải bù lỗ trong hai năm đầu khi mở ra một xí nghiệp may mới ở vùng nông thôn. Một chủ DN ở miền Bắc, cũng nhiều lần phàn nàn về tình trạng NLĐ có ý thức rất kém trong tuân thủ nguyên tắc lao động công nghiệp hóa. "Chúng tôi chấp nhận đào tạo nghề, và giáo dục ý thức lao động, ý thức vì sự phát triển chung của doanh nghiệp cho NLĐ hoàn toàn miễn phí. Tuy nhiên không phải không có những trở ngại. Không phải lúc nào cũng thuê được giảng viên ở trường nghề về đào tạo, những cán bộ ở DN phải kiêm việc đào tạo nhân viên mới. Nhưng có khi chỉ cần hơi nặng lời một tí (do cán bộ không phải là chuyên gia đào tạo chuyên nghiệp) là NLĐ đã tự ái bỏ đi. NLĐ vốn là nông dân, tâm lý tiểu nông đã ăn vào máu, thích tự do vô tổ chức, thích thì đi làm, không thích thì nghỉ, thậm chí nghỉ việc tràn lan vì những lý do rất trời ơi như đến vụ lúa thì đi gặt, đến vụ vải thiều thì nghỉ vài ngày đi bán vải thiều, giỗ chạp, cưới xin nghỉ tùm lum vài ngày là chuyện bình thường. Muốn ý thức của họ thay đổi, phải vô cùng kiên nhẫn và nỗ lực cải thiện họ trong một thời gian dài. Trong khi đó, áp lực thay đổi của thị trường lại nhanh và rất căng" – Vị lãnh đạo này chia sẻ.

Tuy nhiên, do bị gãy ở khâu giáo dục nhân cách NLĐ, nên dẫn đến tình trạng, NLĐ chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân mình khi đi làm, không nghĩ hoặc quan tâm tới quyền lợi của DN và rộng ra là quyền lợi quốc gia. Trong những năm qua, khi các DN FDI ồ ạt nhảy vào Việt Nam, dùng chiêu thức "hớt váng" để vợt NLĐ có tay nghề, bằng cách trả lương cao hơn DN Việt, thì NLĐ lập tức bỏ việc và nhảy sang doanh nghiệp FDI đầu quân.

Tình trạng nhảy việc của NLĐ gây nên khó khăn vô cùng lớn cho DN Việt. Thậm chí, DN FDI còn kéo người không chỉ bằng mức lương cao, mà còn thưởng nóng với mức cao cho những ai kéo được cả nhóm đông công nhân sang doanh nghiệp của họ làm việc. Thế nên mới có chuyện tại một doanh nghiệp may ở Hưng Yên, chủ DN méo mặt vì trong lúc đơn hàng đang cần chạy gấp, thì cả dây chuyền công nhân bỏ đi, mặc kệ DN lao đao và có nguy cơ bị khách hàng phạt nặng do không hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn. NLĐ cũng không cần quan tâm rằng, chính DN này đã đào tạo tay nghề miễn phí cho họ trong thời gian họ mới chân ướt chân ráo đi học việc.

Đối diện nguy cơ bị đào thải

Trước tình hình thị trường lao động cạnh tranh khốc liệt và thiếu minh bạch, các chủ DN lại phải đau đầu tìm giải pháp. Đơn cử như Tổng công ty Cổ phần May Hưng Yên, với hơn 12.000 lao động, trước thách thức của thị trường lao động, đã phải "chiều lao động như... chiều vong".

DN này những năm qua thực hiện chủ trương: lấy NLĐ là mục tiêu và trọng tâm của sự phát triển doanh nghiệp. Do đó, DN chăm lo từ việc đào tạo nghề, bữa ăn ca miễn phí, nhà ở giá rẻ, hỗ trợ xăng xe, xây nhà trẻ trông con cho NLĐ, tổ chức nghỉ mát hàng năm cho NLĐ và thân nhân của họ, lo cả chuyện tổ chức sinh nhật, ma chay hiếu hỉ cho họ… Tất cả vì NLĐ, vậy nhưng khi có những chào mời hấp dẫn từ doanh nghiệp FDI, NLĐ vẫn "chao đảo" và "nhảy việc".

Tuyển được NLĐ đã khó, đào tạo để họ có tay nghề, biết kỹ năng đã khó hơn, giữ chân được họ lại càng khó bội phần. Đứng trước tình hình nan giải đó, nhiều năm rồi không giải quyết dứt điểm, có DN đã chuyển sang đầu tư công đoạn SX khác, dùng ít nhân sự hơn. Ông Nguyễn Văn Miêng - Tổng Giám đốc Tổng công ty CP dệt may Nam Định chia sẻ, làm việc với máy móc dễ hơn làm việc với con người. Do đó chúng tôi định hướng chuyển sang làm khâu dệt nhuộm, dù khâu này có tỷ suất đầu tư lớn hơn, làm khó khăn hơn, nhưng được cái chỉ dùng rất ít NLĐ. Trải qua bao khó khăn lúc đầu tư ban đầu, nhưng khi đã làm được hàng dệt nhuộm được thị trường chấp nhận, thì sản xuất ổn định và hiệu quả hơn nhiều so với làm ngành may, phải đối mặt với rủi ro quá lớn về nguồn nhân lực.

Theo đánh giá của TS. Hoàng Xuân Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội, hiện lao động đã qua đào tạo trong các DN dệt may chiếm khoảng 25%. Như vậy vẫn còn khoảng 75% lao động trong lĩnh vực này chưa qua đào tạo hoặc chỉ được đào tạo dưới 3 tháng. Đây là thách thức rất lớn khi ngành dệt may đang trong xu thế vươn lên để cạnh tranh bằng năng suất, chất lượng, thời trang hóa ngành dệt may, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tiếp cận với cách mạng công nghiệp 4.0.

Như vậy, đối với các chủ DN, thì cách mạng công nghiệp 4.0 vừa là thách thức, nhưng cũng đem lại cơ hội lớn. Các DN phải chuẩn bị rốt ráo cho đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, do đó cần có nguồn vốn lớn cho chuyển đổi. Tuy nhiên, nguồn vốn này có thể giải được qua các bài toán tài chính khác nhau, với sự hỗ trợ của các bên liên quan như ngân hàng, đối tác, khách hàng. Để đào tạo nguồn nhân lực vận hành máy móc, thiết bị hiện đại này sẽ khó khăn hơn. Có thể thời gian đầu, phải chấp nhận thuê nhân công nước ngoài, tốn chi phí hơn nhưng hiệu quả sẽ cao hơn bội phần, và song song đào tạo cho NLĐ Việt Nam.

Ông Nguyễn Ngọc Lân, TGĐ Tổng Công ty May Nhà Bè, cho biết:"Chúng tôi hiện có 30 ngàn người lao động, nên vấn đề biến động lao động hàng ngày phải đối mặt. Chúng tôi xác định phải sống chung với lũ. Sau quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận ra phương thức sản xuất có tác động rất lớn đến người lao động. Để giảm tối thiểu sự phụ thuộc vào người lao động, May Nhà Bè đầu tư dây chuyền thiết bị tự động hóa cao. Ví dụ khi đầu tư dây chuyền tự động hóa, tỷ suất đầu tư cao hơn 40% so với dây chuyền truyền thống, nhưng lại giảm được 40% lượng người lao động,và tăng 40% năng suất. Nhờ giải pháp này mà chúng tôi thoát khỏi sự loay hoay bao lâu nay với bài toán biến động lao động."

Những NLĐ đủ năng lực tiếp cận được kiến thức mới, làm chủ máy móc thế hệ mới, sẽ giữ được việc làm. Còn phần đông những NLĐ không thể làm chủ được công nghệ cao, bị thải loại khỏi thị trường lao động thì tương lai sẽ ra sao?



Kiều Mai (Báo Giáo dục và Thời đại)