Hẳn không phải chuyện thường tình khi lên một chiếc máy bay mang theo 4 quả bom nhiệt hạch (bom H), mỗi quả có sức hủy diệt gấp cả ngàn lần bom nguyên tử từng trút xuống TP Hiroshima - Nhật Bản năm 1945. Tuy nhiên, đối với 7 thành viên phi hành đoàn trên chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 Stratofortress cất cánh từ căn cứ không quân Seymour Johnson tại bang Bắc Carolina - Mỹ hơn 50 năm trước, vào ngày 16-1-1966, đó lại là nhiệm vụ thường lệ.

Cơn mưa lửa

Sứ mệnh của họ nằm trong chiến dịch mang tên “Vòm Chrome” bắt đầu từ năm 1961 và là một phần sống còn của năng lực hạt nhân Mỹ. Theo đó, với mục đích ngăn kịp thời nếu Liên Xô có ý định thực hiện một cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu vào Mỹ, Washington điều hàng chục chiếc B-52 trang bị vũ khí hạt nhân hoặc nhiệt hạch hoạt động liên tục 24/24 giờ qua Đại Tây Dương tới bờ biển phía Đông nước Ý trước khi quay lại Mỹ.

Điều khiển chiếc B-52 hôm đó là phi công Charles J. Wendorf, mới 29 tuổi nhưng đã có 5 năm kinh nghiệm với phiên bản máy bay ném bom chiến lược này. Wendorf đã là cha của 3 đứa trẻ và sáng hôm ấy, vợ anh - chị Bette - cứ bồn chồn không yên vì linh cảm không hay về chuyến bay của chồng, theo tiết lộ của tờ Daily Mail. Người vợ trẻ cầu xin chồng đừng đi nhưng Wendorf quả quyết: Mệnh lệnh là mệnh lệnh, anh không có lựa chọn.

Vì mỗi sứ mệnh kéo dài như vậy, chiếc B-52 phải được tiếp liệu giữa không trung tới 4 lần. Sau khi quay ngược qua biển Adriatic, chiếc B-52 hướng về điểm tiếp liệu thứ 3 - nơi nó sẽ gặp máy bay tiếp liệu quân sự KC-135 Stratotanker ở độ cao 9 km bên trên không phận phía Đông Nam Tây Ban Nha. Vào khoảng 10 giờ 30 phút hôm 17-1-1966, 2 chiếc máy bay đã “hẹn hò” đầy đủ thời gian, địa điểm gặp gỡ.


Thủy thủ trên tàu ngầm USS Petrol (Mỹ) bên quả bom H được trục vớt từ Địa Trung Hải. Ảnh: Daily Mail

Thủy thủ trên tàu ngầm USS Petrol (Mỹ) bên quả bom H được trục vớt từ Địa Trung Hải. Ảnh: Daily Mail

Với 2 chiếc máy bay đang di chuyển ở tốc độ hơn 800 km/giờ, quy trình tiếp liệu đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối và các thành viên phi hành đoàn đều không thiếu kinh nghiệm. Lúc bấy giờ, phi công Wendorf tạm thời nghỉ lái. Điều khiển chiếc B-52 lúc này là phi công còn lại - thiếu tá Larry G. Messinger.

Nhận thấy chiếc B-52 tiếp cận hơi nhanh, phía KC-135 liền gửi cảnh báo. Những người trong cuộc đều không đánh giá tình trạng là nguy hiểm. Thế nhưng, thay vì tiếp xúc một cách nhẹ nhàng, thùng chứa nhiên liệu của B-52 đập mạnh vào bộ phận tiếp liệu của KC-135.

Sự va đập làm rớt cánh bên trái của chiếc máy bay ném bom chiến lược. Lửa nhanh chóng lan vào “cây xăng” đầy ắp của KC-135 và đốt cháy toàn bộ 30.000 gallon nhiên liệu bên trong, khói bốc ra từ đám cháy chạm cả mặt đất. Trong khi đó, chiếc B-52 gặp nạn bắt đầu vỡ tung, 3 trong số 7 thành viên phi hành đoàn của B-52 và toàn bộ 4 phi công của chiếc KC-135 đã thiệt mạng.

Thông thường, đối với một vụ nổ bom H ở vị trí đó, chỉ chưa đầy 2 phút, vũ khí hủy diệt này tiếp đất với tốc độ khủng khiếp, có thể phá hủy toàn bộ các khu vực Andalucia và Murcia của Tây Ban Nha. Hàng trăm ngàn người có thể mất mạng và bụi phóng xạ hạt nhân có thể giết thêm hàng triệu người khác khắp châu Âu - không chỉ vì chất độc phóng xạ mà còn vì bệnh ung thư sẽ đầy đọa nạn nhân trong nhiều thập kỷ sau đó.

Nửa thế kỷ đã trôi qua và nhân loại vẫn còn cảm thấy rất may mắn vì kịch bản tồi tệ nhất đó đã không xảy ra. Phi hành đoàn đã làm tất cả những gì có thể. Trước khi bung dù thoát thân qua cơn mưa lửa xuống biển, họ đã cố gắng bấm nút hệ thống thả bom sự cố. Một quả bom H rơi an toàn xuống cánh đồng cà chua gần làng Palomares trước sự ngỡ ngàng của người dân còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Hai quả khác bị ngòi nổ phi hạt nhân phá tung gây ra một trận mưa bụi plutonium và quả còn lại rơi xuống biển.

Nguyên nhân khiến 2 quả bị ngòi nổ phi hạt nhân phá tung sau này được xác định là do dù an toàn đã không bung ra khi phi công ấn nút thả bom sự cố. Lượng plutonium lên tới 4,5 kg bị phát tán đủ nhấn chìm 250 ha đất ở Palomares trong ô nhiễm nguy hiểm. Chỉ cần hít phải 1 phần triệu gam plutonium, một người khỏe mạnh đã có thể bị ung thư.

Chờ đợi quá lâu

Đến tháng 10-2015, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới nhất trí hoàn tất thỏa thuận với người đồng cấp Tây Ban Nha về việc đền bù bổ sung cho Palomares và thu xếp để thu gom, tiêu hủy nốt 50.000 m3 đất nhiễm độc còn lại. Điều mà nhiều người vẫn không giải thích được là vì sao phải chờ lâu đến thế mới tống khứ số đất độc hại này? Sau hơn 50 năm, nhiều khu vực nhiễm phóng xạ với diện tích khoảng 40 ha vẫn rào kín chờ làm sạch.

Hôm vụ nổ xảy ra, cư dân Palomares ngập trong một cơn mưa mảnh vỡ kim loại. Hàng loạt vụ thoát chết kỳ diệu trong gang tấc được cư dân địa phương kể lại. “Mưa lửa từ trên trời đang trút xuống” - một cô bé 5 tuổi nói.

Phải đến 3 ngày sau, dưới sức ép của truyền thông, Bộ Chỉ huy Không quân Mỹ mới chính thức thừa nhận vụ đánh rơi bom H có một không hai trong lịch sử này. Ba quả rơi trên đất liền nhanh chóng được tìm thấy song với quả còn lại rơi xuống Địa Trung Hải, giới chức Mỹ phải huy động hơn 30 tàu hải quân và nhiều thiết bị hiện đại sục sạo suốt gần 3 tháng mới trục vớt được ở độ sâu 869 m.

Phía Mỹ cũng huy động lực lượng dọn dẹp hơn 14.000 m3 đất bị nhiễm phóng xạ và đưa về nước xử lý. Trong khi đó, giới chức Tây Ban Nha cố gắng trấn an dư luận bằng cách vẫn tổ chức cuộc thi bơi thường niên vào tháng 3-1966. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Du lịch Tây Ban Nha Manuel Fraga Iribarne và Đại sứ Mỹ Biddle Duke cũng nhảy xuống biển gần làng Palomares cùng thi.

Bất chấp nỗ lực xử lý hậu quả cũng như trấn an dư luận từ phía Mỹ cũng như giới chức Tây Ban Nha, nhiều cư dân làng Palomares vẫn không hết ngờ vực. Tờ Daily Mail cho biết theo một báo cáo, khoảng 50 người dân trong làng chài này vẫn mang plutonium trong cơ thể. Nhiều bằng chứng cho thấy sau sự cố, nhiều người dân Palomares đã chết vì bệnh ung thư khi còn rất trẻ. Tuy nhiên, không có cách nào để xác nhận điều này bởi tất cả hồ sơ bệnh án đều đã bị tiêu hủy bởi chính quyền phát-xít của tướng Franco.

Đỗ Quyên