Trước nghịch lý luật pháp ngày càng hoàn thiện nhưng thực phẩm bẩn vẫn lộng hành, đã đến lúc phải bịt kín kẽ hở "hậu kiểm" để chấm dứt tình trạng đánh đổi sức khỏe cộng đồng lấy lợi nhuận.
Lỗ hổng thực thi Luật An toàn thực phẩm
Quyền được bảo vệ sức khỏe và tính mạng là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận. Tuy nhiên, thực trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) đang diễn biến phức tạp với quy mô ngày càng nghiêm trọng. Hàng loạt vụ việc, từ bê bối của Đồ hộp Hạ Long đến việc phát hiện chất cấm ethylene oxide trong mì gói xuất khẩu, đã minh chứng cho một nghịch lý pháp lý: Dù hệ thống văn bản tương đối đầy đủ, hiệu lực thực tế vẫn suy giảm do lỗ hổng trong giám sát. Vấn đề cốt lõi không nằm ở thiếu hụt quy định, mà do sự yếu kém trong tổ chức thi hành và sự xuống cấp của đạo đức kinh doanh.
Thực tế, Việt Nam đã thiết lập hành lang pháp lý khá chặt chẽ với văn bản gốc là Luật An toàn thực phẩm năm 2010. Các chế tài xử lý cũng được điều chỉnh theo hướng tăng nặng tính răn đe. Cụ thể, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 4-9-2018 quy định mức phạt tiền tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức, kèm theo các biện pháp mạnh như đình chỉ hoạt động.

Người tiêu dùng mua sắm ở siêu thị MM Mega Maket An Phú. Ảnh: NGỌC ÁNH
Đặc biệt, thái độ nghiêm khắc của nhà nước được thể hiện rõ tại điều 317 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, cá nhân phạm "Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm" có thể đối mặt với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù giam.
Hành vi cố ý để vụ lợi
Mặc dù hệ thống quy định xử phạt đã được ban hành cụ thể, một trong những "kẽ hở" pháp lý lớn nhất dẫn đến tình trạng mất ATVSTP hiện nay chính là cơ chế hậu kiểm. Cơ chế này được quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2-2-2018 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm.
Việc chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cho phép doanh nghiệp tự công bố sản phẩm, được xem là bước tiến lớn trong cải cách thủ tục hành chính, tạo đà cho môi trường kinh doanh kiến tạo. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp chưa cao, cơ chế này đã phát sinh hệ lụy tiêu cực. Lợi dụng sự thông thoáng của chính sách, nhiều chủ thể kinh doanh đã thực hiện hành vi gian dối, công bố chất lượng không đúng với thực tế sản xuất. Trong khi đó, nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế, công tác hậu kiểm không thể bao quát toàn bộ thị trường, khiến nhiều vi phạm gây hậu quả cho xã hội trước khi cơ quan chức năng kịp thời phát hiện và xử lý.
Bên cạnh đó, sự phân tán và chồng chéo trong thẩm quyền quản lý cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng "luật có nhưng chưa nghiêm". Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm hiện được phân công cho 3 cơ quan là Bộ Y tế, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tuy nhiên, cơ chế thanh tra, kiểm tra chủ yếu vẫn thực hiện theo kế hoạch định kỳ, thiếu tính đột xuất nên dễ bị các đối tượng đối phó. Quy trình giám sát lỏng lẻo tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng cho thấy công tác thực thi pháp luật chưa đi sâu vào thực chất, chưa tạo đủ áp lực buộc các chủ thể kinh doanh tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Ngoài bất cập về cơ chế, nguyên nhân cốt lõi nằm ở đạo đức kinh doanh. Dưới góc độ tội phạm học, đây là hành vi cố ý vì động cơ vụ lợi. Điển hình là thực trạng doanh nghiệp tuân thủ chuẩn quốc tế (như không dùng ethylene oxide) cho hàng xuất khẩu, nhưng lại vi phạm với hàng nội địa. Hành vi này thể hiện sự coi thường sức khỏe cộng đồng và xâm phạm quyền được an toàn theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023.
Hệ quả không chỉ là ngộ độc cấp tính mà còn là di chứng lâu dài, như ung thư. Đáng ngại hơn, trong các vụ án dân sự, việc chứng minh quan hệ nhân quả giữa thực phẩm bẩn và thiệt hại là vô cùng khó khăn, khiến người tiêu dùng luôn ở thế yếu và thiếu sự bảo vệ.
Phải trừng phạt nghiêm
Để khắc phục tình trạng này, giải pháp cấp bách trong thời gian tới không thể chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền giáo dục, mà phải tập trung vào việc hoàn thiện và siết chặt cơ chế thực thi pháp luật.
Trước hết, cần tăng cường hiệu quả của công tác hậu kiểm, chuyển từ thanh tra theo kế hoạch sang thanh tra đột xuất, lấy mẫu kiểm nghiệm ngẫu nhiên trên thị trường để bảo đảm tính khách quan.
Song song với đó, cần áp dụng triệt để và nghiêm khắc các chế tài hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần kiên quyết khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh các vụ án vi phạm quy định về ATVSTP theo điều 317 Bộ Luật Hình sự. Phải xem đây là loại tội phạm xâm phạm an toàn công cộng đặc biệt nguy hiểm, không cần đợi đến khi có hậu quả chết người mới truy cứu trách nhiệm.
Đặc biệt, cần quy định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương nếu để xảy ra vi phạm nghiêm trọng về an toàn thực phẩm trên địa bàn quản lý, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.
Cuối cùng, cần luật hóa việc áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng thực phẩm, xem đây là điều kiện bắt buộc để hàng hóa được lưu thông trên thị trường. Chỉ khi thiết lập được một cơ chế giám sát minh bạch, cùng với việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, không có vùng cấm thì mới có thể bảo đảm được trật tự kỷ cương trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 15-1
Bình luận (0)