Sau Hiệp định Genève, từ bưng biền kháng chiến Nam Bộ, một số văn nghệ sĩ được phân công về Sài Gòn công tác. Tại đây, họ chủ động lo giấy tờ hợp pháp, ổn định công ăn việc làm, sau đó có người của tổ chức đến móc ráp. Trong số này, có thể kể đến nhà văn Sơn Nam, nhà phê bình Thiếu Sơn, nhà thơ Viễn Phương… mà "nổi đình nổi đám" nhất là nhà văn Dương Tử Giang.

Say mê đeo đuổi lý tưởng

Nhà văn Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, sinh năm 1914 tại Bến Tre. Năm 1945, ông lên Sài Gòn làm báo rồi bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1951, ông thoát ly ra vùng kháng chiến ở Khu 9 hoạt động văn nghệ. Đến năm 1954, ông có mặt tại Sài Gòn theo yêu cầu của tổ chức.

Dù nghèo rớt mồng tơi nhưng ngay từ khi mới chân ướt chân ráo về thành phố, nhà văn Dương Tử Giang đã bằng mọi cách xoay xở để có tiền ra báo. Giai đoạn này, nhà thơ Viễn Phương kể lại câu chuyện về nhà văn Dương Tử Giang, nay ngẫm lại khiến nhiều người không khỏi khâm phục và… buồn cười.

Lúc bấy giờ, vừa về thành phố còn ngơ ngác chưa biết phải làm gì, một hôm, Dương Tử Giang ghé lại nhà ông Viễn Phương đặt viết bài và… vay tiền để ra tờ báo Công Lý. Trưa ấy, ông Viễn Phương mời bạn ở lại dùng cơm. Trời nóng nực, thấy Dương Tử Giang vẫn mặc chiếc áo bành tô, đeo "cà ra oách" nghiêm chỉnh, chủ nhà bèn nhắc bạn: "Cởi bành tô ra cho mát". Khi Dương Tử Giang cởi bành tô ra, mới biết chiếc sơ mi chỉ lành lặn phía trước, còn sau lưng đã… rách te tua!

Nhà văn Dương Tử Giang khi ấy nghèo trần thân. Dù nhà trong khu lao động Bầu Sen bị hỏa hoạn, con cái nheo nhóc, năm lần bảy lượt phải thuê nhà trọ, mẹ bán báo lẻ kiếm sống qua ngày nhưng ông vẫn say mê đeo đuổi lý tưởng đã có từ thời ở chiến khu.

Một dòng máu đỏ, một niềm tin - Ảnh 1.

Nhà văn Dương Tử Giang. (Ảnh tư liệu)

Phải nói rằng, Dương Tử Giang là người rất nhạy bén về thời cuộc. Với nhà thơ Viễn Phương, ông gợi ý nên tập trung viết về đấu tranh thống nhất nước nhà, theo tinh thần Hiệp định Genève vừa ký kết. Lúc nhà văn Sơn Nam chưa biết phải viết đề tài gì phù hợp với làng báo Sài Gòn, ông khuyên tác giả "Hương rừng Cà Mau" nên tìm nhà văn Bình Nguyên Lộc để hỏi thêm kinh nghiệm viết thế nào để "ăn khách", chủ bút chấp nhận in mà không mặc cảm, xấu hổ với anh em kháng chiến. Chính tại nhà Bình Nguyên Lộc trên đường Dixmude (nay là Đề Thám, quận 1, TP HCM), ông Ba Hương (Phạm Dân), phụ trách tuyên truyền báo chí Xứ ủy Nam Kỳ bấy giờ, đã giao cho Dương Tử Giang 10.000 đồng để làm tờ Bình Dân.

Một dòng máu đỏ, một niềm tin - Ảnh 2.

Nhà văn Dương Tử Giang. (Ảnh tư liệu)


Chuyện làm báo của Dương Tử Giang gây tiếng vang nhất là vào năm 1947, khi ông chủ trương tờ Văn hóa. Khi làm số báo Xuân năm đó, dù ảnh phụ nữ dễ bán báo nhưng ông cho in ngay trang bìa câu thơ: "Nụ cười thôi nở trên môi thắm/ Vì gót chân thù dẫm chiến trường".

Trong tập sách "Chém vè giữa làng báo Sài Gòn" (NXB Công an Nhân dân - 2002), nhà văn Nguyên Hùng kể: "Một sáng kiến độc đáo của Dương Tử Giang là in tài liệu kháng chiến trên báo Văn hóa - trang bìa toàn những bài thân chính quyền mà ruột là… Việt Minh. Anh cho phát hành sớm, từ tờ mờ sáng. "Báo Văn hóa đặc biệt đây! Mua nhanh kẻo hết!". Tới trưa, địch mới biết, lùng bắt Dương Tử Giang nhưng anh đã lặn mất tăm. Anh lặn tới Khu 9, tại đây gặp lại cố nhân Mai Văn Bộ, gia nhập Sở Thông tin Nam Bộ, viết bài cho đài phát thanh. Sau đó, anh phụ trách đoàn văn công, sáng tác tuồng hát bội…".

Khi có mặt tại Sài Gòn năm 1954, quan sát tình hình xuất bản báo chí, Dương Tử Giang đặt cho mình nhiệm vụ tập trung viết truyện thiếu nhi, lấy nhan đề "Loạn rừng xanh" nhằm chống lại trào lưu tiểu thuyết "kiếm hiệp ba xu" toàn là phi thân, bùa phép quái gở, mê tín dị đoan đang bán chạy như tôm tươi. Ông kể: "Kế nhà tôi có thằng nhỏ 14 - 15 tuổi, "lậm" kiếm hiệp dữ lắm. Tối nào nó cũng đốt ngọn đèn leo lét luyện phép gì đó. Ba má nó rầy không được, bây giờ nó loạn trí, vô nhà thương Biên Hòa rồi. Bữa trước báo đăng, có thằng nhỏ học niệm chú rồi leo lên cây tập phi thân, nhảy đại xuống té lọi giò. Ảnh hưởng kiếm hiệp đó. Tờ báo của tôi đã vững vàng rồi thì bọn "lưu manh cầm bút" vô lương tâm này hết đất sống".

Ý thức cầm bút của Dương Tử Giang bấy giờ rất rõ nét, không mập mờ, không "sọc dưa" và có tính tiên phong. Sau này, năm 1966, khi một số trí thức tại Sài Gòn chủ trương Tạp chí Tin Văn - ấn hành công khai, thông qua Nguyễn Lương Ngọc và Vũ Hạnh thì một trong những nội dung họ đeo đuổi vẫn là phê phán sách báo dành cho thiếu nhi đang bị lái buôn thao túng theo nội dung nhảm nhí.

Cây bút quyết liệt

Nhà văn Dương Tử Giang còn viết những tác phẩm như truyện dài "Tranh đấu", tập truyện ngắn "Một vũ trụ sụp đổ"…; tham gia ban biên tập hoặc công tác với nhiều tờ báo đấu tranh và cách mạng như Em, Công Lý, Bình Dân, Thế Giới... Do nội dung đấu tranh thống nhất đất nước, châm biếm chính khách xôi thịt theo Tây, phê phán chính sách của nhà cầm quyền nên hầu hết các tờ báo do ông thực hiện được vài số là bị rút giấy phép.

Nhà văn Dương Tử Giang sáng tác cả thơ trào phúng. Trong đó, có thể kể đến "Cô Sáu tào thưng" với quan niệm: "Viết cho đại chúng đọc, từ cách hành văn đến chữ dùng phải cho đại chúng có thể hiểu". Đành rằng dễ hiểu như: "Hôm qua tôi gánh gánh chè/ Mỏi chơn dừng bước trên lề bồn binh/ Thấy ông biện, tôi hoảng kinh/ Đã toan mau lẹ, lánh mình đi xa/ Nhưng ông cũng cứ không tha/ Tay thoi chơn đá tuổi già kể chi/ Nồi chè đổ, vốn còn gì?/ Gượng đi, mình nặng như chì trên vai" nhưng tới đây, Dương Tử Giang lập tức đề cập chuyện thời cuộc như một cách tuyên truyền chính trị: "Bên Tây nội các đổ hoài/ Bên này… chè cháo đổ ngoài bồn binh".

Một dòng máu đỏ, một niềm tin - Ảnh 3.

Tạp chí Tin Văn do ông cùng một số trí thức Sài Gòn chủ trương. (Ảnh tư liệu)

Có thể nói, Dương Tử Giang là một trong những cây bút quyết liệt nhất trong giai đoạn này. Vì lẽ đó, vào thập niên 1950, trong chiến dịch bắt bớ người kháng chiến cũ của chính quyền Ngô Đình Diệm, hàng loạt văn nghệ sĩ như Dương Tử Giang, Thiếu Sơn, Lý Văn Sâm, Tô Nguyệt Đình… đã bị bắt giam tại bót Catinat (trên đường Đồng Khởi, quận 1 ngày nay), sau chuyển về trại giam Tân Hiệp (TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Trong tù, ngoài tù, không ít người nơm nớp lo sợ, dao động, nhụt chí, muốn đầu hàng, thỏa hiệp… Trong khi đó, Dương Tử Giang đã tung ra bài thơ như lời tuyên bố đanh thép: "Tàn bạo nào ngăn được bất bình/ Một dòng máu đỏ, một niềm tin/ Khảo tra không nhụt lòng gang thép/ Lừa mị đâu mềm dạ sắt đinh/ Máu lệ dẫu chan hòa ngục thất/ Tâm hồn vẫn rực lửa bình minh/ Con đường tranh đấu con đường sống/ Mãi mãi bên nhau vẹn nghĩa tình".

Chiều nhá nhem ngày 2-12-1956, các tù nhân chính trị đã phá cửa ngục trốn thoát, còn nhà văn Dương Tử Giang bị bắn chết. Một cái chết bi thương hùng tráng của một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa đã viết bằng máu của mình: "Một dòng máu đỏ, một niềm tin".

Khi đề cập hoạt động văn nghệ của nhà văn - liệt sĩ Dương Tử Giang cũng là dịp chúng ta quay trở lại với ý thức đấu tranh thống nhất của trí thức Sài Gòn và Nam Bộ nói chung. Từ năm 1946, khi thực dân Pháp dựng nên quái thai Nam Kỳ quốc, chính Dương Tử Giang đã vạch mặt người đứng đầu chính phủ bù nhìn: "Giỏi nghề mần quan/ Rành nghề bắt mạch/ Lê gót từ thành thị tới thôn quê/ Thân chủ là Tây, ta, Chà, Khách/ Khi Nhật tới ôm ngay chân Nhật/ Thỏa nguyện rồi mặc sức nghênh ngang/ Khi Tây về lại liếm gót Tây/ Trên sân khấu chân tay đều múa". 

Ý thức cầm bút của nhà văn Dương Tử Giang rất rõ nét, không mập mờ, không “sọc dưa” và có tính tiên phong.

Với vũ khí sắc bén là ngòi bút, các văn nghệ sĩ như Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Ái Lan, Phi Vân, Sơn Khanh, Hoàng Mai… đã quyết liệt chống lại chính sách chia để trị của thực dân Pháp, bất chấp bị đàn áp, tù đày. Rất tiếc cho đến nay, dòng văn học yêu nước và kháng chiến giai đoạn này tại Sài Gòn chỉ mới dừng lại ở hai công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Sâm: "Văn chương tranh đấu miền Nam", "Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950".

Thiếu sót này, há không phải là trách nhiệm của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học hiện nay đấy sao?

ANH LƯU