Tại báo cáo tổng kết thi hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14, hiệu lực1-1-2022), Bộ Nội vụ cho hay bên cạnh các kết quả tích cực, sau hơn 3 năm thực hiện Luật, thực tiễn vẫn phát sinh nhiều khó khăn, bất cập.
Trong đó, đáng chú ý là tình trạng cá nhân, tổ chức không có giấy phép nhưng vẫn tổ chức tuyển chọn, lừa đảo, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trái phép, còn diễn biến phức tạp. Hoạt động lừa đảo thông qua các nền tảng mạng xã hội, các trang thông tin điện tử giả mạo ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho công tác kiểm soát.
Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của doanh nghiệp dịch vụ và các đối tượng khác có hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chưa được thực hiện thường xuyên, đồng đều giữa các địa phương; chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong một số trường hợp chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe.

Người lao động Việt Nam chuẩn bị bay sang Nhật Bản làm việc
Nguyên nhân của tình trạng trên là do quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật chưa bao quát các vi phạm phổ biến, gây khó khăn cho công tác hậu kiểm. Cụ thể, Luật hiện hành chưa định nghĩa các khái niệm cốt lõi "trực tiếp tuyển chọn", "cho người khác sử dụng giấy phép", dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất. Một số hành vi như không trực tiếp tuyển chọn người lao động, không đăng ký địa điểm hoạt động của chi nhánh, tổ chức tuyển chọn người lao động đi làm việc tại quốc gia, ngành, nghề chưa được phép tiếp nhận lao động… chưa được luật hóa, dẫn đến tình trạng cho mượn giấy phép, mạo danh doanh nghiệp được cấp phép để lừa đảo người lao động diễn biến phức tạp, đặc biệt trên môi trường mạng.
Cùng với đó, điều kiện cấp giấy phép và quản lý các đầu mối hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ còn thiếu sót, chưa ngăn chặn được tình trạng "lách luật" trong trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép do vi phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính, nhưng ngay sau đó vẫn thành lập doanh nghiệp mới hoặc đứng tên doanh nghiệp khác để đề nghị cấp giấy phép. Các quy định cũng chưa nêu về tiêu chuẩn nhân viên nghiệp vụ, chưa bao quát "địa điểm kinh doanh", tạo kẽ hở để tổ chức tuyển chọn lao động trá hình.
Ngoài ra, khó khăn, vướng mắc còn xuất phát từ việc thẩm quyền quản lý tập trung ở cấp Bộ, chưa thể chế hóa đầy đủ chủ trương phân quyền cho địa phương; nhiều thủ tục hành chính còn nặng về "tiền kiểm"; công tác tổ chức thi hành ở một số địa phương còn chưa được quan tâm đúng mức; nguồn lực và năng lực thực thi tại cơ sở còn hạn chế; việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý lĩnh vực này vẫn đang trong giai đoạn xây dựng, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thời gian qua, Bộ Nội vụ đang đề xuất dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Qua đó, ngoài hoàn thiện các quy định để tăng tính thực thi; phù hợp với thực tiễn tình hình phát triển của Việt Nam và xu thế hội nhập quốc tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Đồng thời, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện, cắt giảm tối đa chi phí, tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp hoạt động, mở rộng và nâng cao năng lực tham gia thị trường lao động ngoài nước; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình quản lý và giám sát hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hướng tới công khai, minh bạch thông tin thị trường để người lao động dễ dàng tiếp cận, tra cứu và thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình…
Theo Bộ Nội vụ, giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2025, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của nước ta tiếp tục được duy trì và phát triển, đặc biệt phục hồi mạnh sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.
Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài qua hợp đồng đạt khoảng từ 130.000 đến 150.000 người mỗi năm; thị trường lao động ngoài nước được mở rộng tới 57 quốc gia và 14 vùng lãnh thổ; lực lượng lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài đạt gần 900.000 người tính đến hết năm 2025, tập trung tại các thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc và một số thị trường mới có yêu cầu cao về kỹ năng nghề.
Nguồn thu từ kiều hối của người lao động Việt Nam ở nước ngoài đóng góp đáng kể vào cán cân thanh toán quốc gia, đồng thời thông qua quá trình làm việc ở nước ngoài, một lực lượng lao động được nâng cao tay nghề, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật, trở thành nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khi về nước.
Bình luận (0)