Theo GS-TS Lê Vân Trình, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn, vệ sinh lao động (AT-VSLĐ) Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, mô hình tổ chức sản xuất, quan hệ lao động và điều kiện làm việc tại Việt Nam đang thay đổi sâu sắc. Các yếu tố như tự động hóa dây chuyền sản xuất, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), kinh tế nền tảng và kinh tế chia sẻ giúp nâng cao năng suất nhưng cũng làm phát sinh nhiều rủi ro lao động mới, phức tạp hơn.
Khoảng trống pháp lý
Cùng với sự phát triển của công nghệ, các nguy cơ về AT-VSLĐ cũng chuyển dịch từ những rủi ro truyền thống sang các mối nguy tiềm ẩn, khó nhận diện và kiểm soát. Tai nạn cơ học có xu hướng giảm nhưng các bệnh nghề nghiệp lại gia tăng. Người lao động (NLĐ) làm việc thường xuyên với máy tính, cường độ cao, thời gian kéo dài, ít vận động hoặc làm việc đơn lẻ dễ mắc các rối loạn cơ - xương - khớp và các vấn đề tâm lý xã hội.

Người lao động trên các nền tảng số đang đối mặt nhiều rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động nhưng vẫn thiếu hành lang pháp lý bảo vệ đầy đủ
Đặc biệt, lao động trong nền kinh tế số như tài xế công nghệ, người bán hàng trên sàn thương mại điện tử, lao động trực tuyến hay dịch vụ lưu trú đang đối mặt nhiều rủi ro hơn so với lao động văn phòng. Tính chất việc làm thiếu ổn định, áp lực công việc lớn, thu nhập chưa tương xứng cùng nỗi lo mất việc thường trực khiến nhiều người rơi vào tình trạng căng thẳng kéo dài, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường...
Tuy nhiên, cơ chế bảo đảm AT-VSLĐ cho nhóm lao động này hiện vẫn chưa đầy đủ. Từ thực tế đó, GS-TS Lê Vân Trình đề xuất bổ sung các quy định bảo đảm AT-VSLĐ đối với NLĐ trong kinh tế số, nhất là lao động nền tảng số; đồng thời xây dựng cơ sở pháp lý đủ mạnh để tăng cường phòng ngừa và kiểm soát rủi ro.
Theo Bộ Nội vụ, việc thực hiện các quy định AT-VSLĐ đối với một số nhóm lao động đặc thù như lao động làm việc tại nhà, học sinh - sinh viên học nghề, lao động giúp việc gia đình hay người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao vẫn còn nhiều hạn chế.
Đối với lao động nhận việc về nhà làm, việc kiểm soát điều kiện lao động gặp khó khăn do nơi làm việc đồng thời là nơi ở. Với học sinh, sinh viên, nhiều cơ sở đào tạo chưa chú trọng lồng ghép nội dung AT-VSLĐ trong chương trình học cũng như tổ chức các biện pháp bảo đảm an toàn trong quá trình thực hành, thực tập nghề nghiệp.
Trong khi đó, lao động giúp việc gia đình thường chưa được quan tâm đúng mức về điều kiện làm việc, phòng ngừa tai nạn và chăm sóc sức khỏe. Riêng người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao là nhóm nghề có nhiều yếu tố nguy hiểm nhưng Luật AT-VSLĐ hiện hành chưa có quy định riêng để điều chỉnh.
Hoàn thiện chính sách
Trong báo cáo tổng kết thi hành Luật AT-VSLĐ, Bộ Nội vụ nhận định nhiều quy định hiện nay không còn phù hợp hoặc chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và các phương thức quản lý hiện đại, nhất là trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh.
Các quy định hiện hành cũng chưa bao quát đầy đủ khu vực lao động không có quan hệ lao động - nhóm đối tượng đang gia tăng mạnh. Công tác phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; một số quy định còn chồng chéo với luật chuyên ngành, gây khó khăn trong quá trình triển khai. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng chưa đáp ứng đầy đủ các cam kết và tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, Chính phủ đã thông qua Nghị quyết số 117/NQ-CP về việc bổ sung Dự án Luật AT-VSLĐ (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI. Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến đối với dự thảo luật này.
Theo dự thảo, cơ quan soạn thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung 61 trong tổng số 93 điều của Luật AT-VSLĐ hiện hành. Một trong những điểm đáng chú ý là hoàn thiện cơ chế phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và nâng cao hiệu quả kiểm soát các yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc trong bối cảnh chuyển đổi số.
Dự thảo cũng đề xuất bổ sung nguyên tắc "lấy phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm trọng tâm"; sửa đổi khái niệm "an toàn lao động" theo hướng quản trị rủi ro hiện đại, chú trọng nhận diện, đánh giá, dự báo và kiểm soát nguy cơ ngay từ sớm thay vì chỉ tập trung xử lý hậu quả.
Để từng bước mở rộng diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân, dự thảo còn đề xuất sửa đổi các quy định về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Trong đó có việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc đối với người đang hưởng lương hưu nhưng ký hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên; từng bước nâng mức hưởng cho NLĐ; đồng thời hoàn thiện hồ sơ, thủ tục và cơ chế thực hiện nhằm bảo đảm thống nhất với Luật BHXH năm 2024 và các quy định liên quan.
Bài toán bảo hiểm tự nguyện
Theo Bộ Nội vụ, bảo hiểm tai nạn lao động vận hành theo nguyên tắc lấy số đông người tham gia chia sẻ rủi ro cho số ít người thụ hưởng. Trong khu vực BHXH bắt buộc, bình quân có hơn 100 người đóng góp cho 1 người hưởng chế độ. Tuy nhiên, với hình thức tự nguyện, phần lớn người tham gia là những lao động làm nghề có nguy cơ tai nạn cao. Vì vậy, khả năng chia sẻ rủi ro trong nhóm thấp hơn nhiều so với khu vực bắt buộc. Do đó, để tăng sức hút đối với NLĐ, cần có cơ chế hỗ trợ tài chính lớn hơn từ Nhà nước.
Bình luận (0)