Vậy công chức, viên chức được hưởng những khoản nào khi thôi việc?

Trợ cấp thôi việc

Với công chức

Theo Điều 59 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được hưởng chế độ thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Do sắp xếp tổ chức;

- Theo nguyện vọng và được cấp có thẩm quyền đồng ý. Nếu chưa được đồng ý mà tự ý bỏ việc thì không được hưởng chế độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng;

- Có 2 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ (căn cứ khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung 2019 ).

Những chế độ của công chức, viên chức khi thôi việc - Ảnh 1.

trợ cấp thôi việc của viên chức được quy định cụ thể tại Điều 39 Nghị định 29/2012/NĐ-CP

Mức hưởng trợ cấp thôi việc với công chức được quy định cụ thể tại Điều 5 Nghị định 46/2010/NĐ-CP :

- Mỗi năm làm việc được tính bằng ½ tháng lương hiện hưởng gồm mức lương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có);

- Mức trợ cấp thấp nhất bằng 1 tháng lương hiện hưởng.

Với viên chức

Theo quy định tại khoản 6, Điều 2 Luật sửa đổi Luật Viên chức 2019, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc trong các trường hợp sau:

- Đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức;

- Hết thời hạn của hợp đồng nhưng người sử dụng lao động không ký tiếp hợp đồng làm việc;

- Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng do ốm đau, bị tai nạn hoặc viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng khi không được trả lương đầy đủ, bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động…

Khi đó, trợ cấp thôi việc của viên chức được quy định cụ thể tại Điều 39 Nghị định 29/2012/NĐ-CP:

- Viên chức công tác từ 31-12-2008 về trước: Mỗi năm làm việc bằng ½ tháng lương hiện hưởng bao gồm các loại phụ cấp và hệ số chênh lệch bảo lưu, thấp nhất bằng 1 tháng lương hiện hưởng;

- Viên chức công tác từ 1-1-2009 đến nay: Thực hiện theo quy định về trợ cấp thất nghiệp.

Bảo hiểm xã hội 1 lần

Căn cứ Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội mới nhất năm 2014, khi có yêu cầu thì công chức, viên chức được hưởng BHXH một lần nếu thuộc các trường hợp sau đây:

- Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc là công chức xã hoặc người hoạt động không chuyên trách ở xã chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện (theo điểm a, khoản 1, Điều 2019 Bộ Luật Lao động 2019 ).

- Ra nước ngoài;

- Mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS…

Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH. Trong đó, cứ mỗi năm được tính như sau:

- 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014;

- 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi;

- Chưa đóng đủ 1 năm BHXH thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Trợ cấp thất nghiệp

Trợ cấp thất nghiệp chỉ áp dụng với các đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 42 Luật Việc làm năm 2013 .

Những chế độ của công chức, viên chức khi thôi việc - Ảnh 2.

Trợ cấp thất nghiệp chỉ áp dụng với các đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Đồng thời, theo Điều 43 Luật Việc làm năm 2013, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp .

Trong khi đó, công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch tại các cơ quan của Nhà nước… trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (căn cứ khoản 1, Điều 1 Luật sửa đổi 2019).

Căn cứ quy định trên, công chức không phải đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp và sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp .

Riêng với viên chức, nếu đáp ứng các điều kiện nêu tại Điều 49 Luật Việc làm sau đây sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp:

- Chấm dứt hợp đồng làm việc đúng luật, không hưởng lương hưu;

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng làm việc;

- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi nghĩa vụ quân sự, công an; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết…

Trong đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở (hiện nay là 7,45 triệu đồng/tháng).

Viên chức được hưởng theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ đóng đủ 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng nữa nhưng tối đa không quá 12 tháng.

Trợ cấp mất việc làm

Đây tiếp tục là một khoản trợ cấp nữa dành cho viên chức nghỉ việc.

Theo đó, tại khoản 6, Điều 2 Luật Viên chức sửa đổi 2019, điều kiện viên chức hưởng trợ cấp mất việc làm là:

- Khi đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc;

- Khi hết hạn hợp đồng làm việc nhưng không được ký tiếp;

- Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do ốm đau, bị tai nạn;

- Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do không được bố trí đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc, không được trả lương đầy đủ, bị ngược đãi, cưỡng bước lao động…

Mức hưởng trợ cấp mất việc làm của viên chức được quy định tại khoản 1, Điều 49 Bộ luật Lao động 2012 gồm: Mỗi năm làm việc trả 1 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng tiền lương.

Theo LuatVietnam