Những năm 1980.
Chúng tôi – những học viên quân sự trẻ tuổi – được cử đi đào tạo tại Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, mà cụ thể là Trường Hải quân Baku. Thời đó, cầm được tấm hộ chiếu để đi Liên Xô là niềm vinh dự lớn.
Tết "bơ sữa"
Tôi vẫn nhớ ánh mắt ba ngày tiễn con. Trong đó có niềm tự hào của người lính, nhưng cũng chất chứa lo âu. Mẹ dúi vào tay tôi xâu bánh đa quê, dặn: "Chia cho các bạn ăn." Chúng tôi lên đường, mang theo tình thương và lời hứa trở về xây dựng Tổ quốc.

Trường Hải quân Baku những năm 1980

Tôi (bên phải) và anh bạn học viên ngành Hàng hải ở Trường Hải quân Baku
Chỉ khi đặt chân lên xứ sở Bạch Dương, tôi mới biết mùi của bơ, mùi của sữa tươi. Ở quê mình khi ấy, sữa là thứ xa xỉ, thường là hộp sữa ông Thọ được đục hai lỗ nhỏ, chắt chiu từng giọt. Sang đây, sữa chảy thành dòng, bơ thơm ngậy.
Chúng tôi choáng ngợp trong sự đầy đủ ấy, nhưng trong lòng thì lại trống vắng.
Cái lạnh nước Nga không chỉ buốt da mà thấm vào tâm hồn. Mùa đông dài, tuyết phủ kín mái nhà, bậc thềm, phủ cả suy nghĩ non trẻ của những chàng trai lần đầu xa quê. Trong màu trắng lạnh ấy, Tết Việt hiện lên như đốm lửa nhỏ, khiến chúng tôi khao khát hương vị quê nhà.
Người Nga không đón Tết âm lịch nên trường chỉ cho chúng tôi nghỉ ngày mùng Một. Chỉ một ngày thôi nhưng với những người con xa quê, cũng phải tổ chức Tết thật đàng hoàng. Chúng tôi được các anh khóa trên truyền cho kinh nghiệm gói và nấu bánh chưng bằng nồi áp suất. Mỗi lần nấu "vừa vặn" được hai chiếc. Gạo nếp, đậu xanh cũng được các anh san sẻ. Bánh không vuông vức như ở quê. Gạo không dẻo bằng gạo nhà. Lá dong phải thay bằng các loại lá khác. Thế nhưng khi mở nắp nồi, hơi nước bốc lên, mùi nếp quyện với đậu xanh và thịt tỏa ra nghi ngút, chúng tôi nhìn nhau rưng rưng: Tết đã về.
Đến năm thứ hai, chúng tôi có kinh nghiệm hơn. Nước mắm, gừng, mộc nhĩ, ngũ vị hương, lạc, các loại gia vị đặc trưng… được mang từ Việt Nam sang, cất kỹ trong góc rương, chỉ đến Tết mới dám mở. Rồi thì làm hoa đào, hoa mai bằng cành cây khô và giấy đỏ, vàng, lại thêm bộ dây đèn nhấp nháy… Giữa ký túc xá xứ người, một góc Tết Việt Nam được dựng lên. Chút hương vị quê hương nhỏ bé giữa Liên bang Xô viết bao la đã làm tan chảy lớp băng tuyết dày đặc ngoài cửa sổ.
Giao thừa, chúng tôi quây quần ở câu lạc bộ hoặc dọc hành lang. Bữa tiệc chỉ có kẹo bánh, nước ngọt và chai "cuốc lủi" do một anh bạn lén mang từ quê hương sang. Thứ rượu ấy quý hơn cả quà cáp. Mấy thầy giáo, sĩ quan quản lý người Nga cứ tấm tắc khen ngon.
Rồi chúng tôi kể cho nhau nghe về quê hương, về tình nghĩa xóm về làng, về gia đình. Ngày ấy, chúng tôi không có điện thoại, không có mạng xã hội. Chỉ có những bức thư viết tay. Một lá thư gửi đi có khi vài ba tháng mới tới. Đêm giao thừa, chúng tôi mở lại những lá thư cũ, đọc đi đọc lại. Nét chữ của cha, lời dặn dò của mẹ, đôi câu hờn dỗi của người yêu.
Ngày mùng một Tết, chúng tôi đi thăm lưu học sinh Việt Nam trong thành phố. Có lần trên xe buýt, một người dân Nga nhận ra chúng tôi là người Việt, đã nắm tay và nói bằng giọng lơ lớ: "Chúc mừng năm mới". Rồi ông lặp lại bằng tiếng Nga. Chỉ một câu chúc thôi mà lòng chúng tôi ấm lạ thường.
Giữa đất nước Liên Xô rộng lớn, Tết Việt vì thế mà trở nên đặc biệt. Chúng tôi gọi vui đó là Tết "bơ sữa". Bởi chính ở nơi có bơ và sữa dồi dào ấy, chúng tôi hiểu thế nào là thiếu một cành đào, thiếu tiếng pháo, thiếu bước chân của mẹ đi qua sân, dáng mẹ tảo tần. Và cũng chính ở nơi ấy, chúng tôi hiểu sâu hơn về tình yêu Tổ quốc.
Tiếng cười không biên giới
Nhắc đến Tết "bơ sữa", không thể không kể lại một giai thoại mà mỗi lần họp lớp, chúng tôi vẫn cười đến chảy nước mắt.
Chúng tôi ở ký túc xá nên ngày thường đều ăn uống tập trung ở căng tin, chỉ thứ bảy, chủ nhật mới được tự nấu ăn. Tiền ăn mỗi tháng được cấp khoảng 80 đến 100 rúp nên ai cũng tiết kiệm. Ở chợ, lòng heo, lòng gà… giá rẻ bèo nhưng với chúng tôi đó là đặc sản. Mấy người bán hàng ở chợ cứ thắc mắc: "Không biết mấy ông Việt Nam nuôi con gì mà tuần nào cũng mua lòng?".

Trường Hải quân Baku hiện nay
Hôm ấy đi chợ sắm Tết, vào siêu thị lớn ở Baku, thấy đầu heo bán rẻ. Anh bạn cùng phòng nháy mắt: "Phen này có bữa ra trò". Đầu gà, má lợn – ông bà ta nói thế. Chúng tôi hí hửng xách về để làm giò xào, má thì luộc, xương nấu cháo. Tuyệt phẩm!
Xách "chiến lợi phẩm", hai đứa xuống tàu điện ngầm giờ cao điểm. Bất ngờ, chiếc túi rách toạc. Cái đầu heo trắng hếu lăn lông lốc giữa sân ga khiến mọi người hoảng hốt. Cảnh sát chạy ngay tới, chỉ vào cái đầu kỳ dị dưới đất rồi hỏi: "Tria galava?" (đầu của ai)?
Anh bạn tôi, vì sợ cảnh sát tịch thu mất bữa tiệc Tết, liền chen ra, giơ tay cuống cuồng kêu lên: "Ma ya! Ma ya!" (của tôi! của tôi!)
Mọi người bật cười, còn viên cảnh sát chỉ vào cái đầu heo, hóm hỉnh: "Đầu của cậu ở đây...", rồi chỉ lên cổ của anh bạn tôi: "... vậy cái trên cổ cậu là gì?"
Lúc ấy chúng tôi mới hiểu vì sao mọi người cười. Chúng tôi cũng phá lên cười. Giữa ga tàu điện ngầm ở thành phố Baku, tiếng cười của chúng tôi hòa vào nhau thành một khoảnh khắc khó quên, đó là tiếng cười không biên giới.

Lễ chào cờ ở Trường Hải quân Baku
Sau tiếng cười ấy là sự cảm thông. Bạn bè Liên Xô thương chúng tôi nghèo mà hiếu học, thương những chàng trai phương Đông xa quê nhưng vẫn cố gắng giữ gìn văn hóa, bản sắc bằng nghi thức đón Tết cổ truyền.
Chuyện tưởng như hài hước nhưng lại hiện lên hình ảnh cả một thế hệ chúng tôi ngày ấy. Tết xa xứ dạy cho những chàng trai sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam về sự thiếu thốn nhưng không thiếu khát vọng. Dạy chúng tôi rằng Tết không nằm ở mâm cao cỗ đầy mà nằm ở cách người ta giữ gìn ký ức. Dạy chúng tôi rằng khi ở giữa trời tuyết trắng, người ta mới biết trân quý một bông hoa đào cắt bằng giấy màu đỏ. Dạy chúng tôi rằng văn hóa không mất đi vì khoảng cách địa lý. Và quan trọng hơn, dạy chúng tôi biết ơn – biết ơn Liên Xô đã đào tạo, biết ơn gian khó đã rèn luyện ý chí, biết ơn những mùa Tết xa xứ giúp chúng tôi hiểu sâu hai tiếng: Tổ quốc.
Bây giờ, những chàng học viên Liên Xô năm ấy tóc đã bạc hết rồi. Tết đến, con cháu quây quần, thực phẩm đủ đầy, điện thoại reo liên tục. Nhưng đôi khi, trong một khoảnh khắc yên lặng, tôi lại nhớ về một hành lang ký túc xá phủ tuyết trắng. Nhớ nồi bánh chưng nhỏ bé. Nhớ những lá thư nhà đã ố màu. Và nhớ tiếng mẹ dặn trong đêm giao thừa: "Con ráng học cho tốt, sau này về phục vụ đất nước".


Bình luận (0)