Với kế hoạch mở rộng quy mô quân đội vào năm 2039, Ba Lan không còn coi xung đột quy mô lớn là một giả thuyết xa vời, mà xem đó là kịch bản nền tảng để định hình cơ cấu lực lượng, công tác huấn luyện và các khoản đầu tư.
Bước chuyển mình này đúc kết trực tiếp từ những bài học tại Ukraine và báo hiệu sự tái cân chỉnh trong thế trận phòng thủ sườn Đông của NATO.

Ba Lan đang chủ động xây dựng năng lực quốc gia nhằm sẵn sàng cho một cuộc xung đột cường độ cao dài hơi. Ảnh: NATO
Theo trang RealClearDefense, cách tiếp cận của Ba Lan kết hợp 3 yếu tố hiếm khi đi cùng nhau ở châu Âu như gia tăng quân số, huấn luyện quân sự toàn diện (hoặc gần như toàn diện) và tích hợp nhanh chóng các hệ thống tấn công tiên tiến, máy bay không người lái và hệ thống hỗ trợ trí tuệ nhân tạo.
Trong khi các cuộc tranh luận công khai thường tập trung vào con số 500.000 quân nhân, ý nghĩa sâu sắc hơn nằm ở sự phá vỡ về mặt khái niệm với mô hình quốc phòng châu Âu thời hậu Chiến tranh Lạnh.
Warsaw đang tổ chức lại quân đội trên tiền đề rằng các cuộc chiến trong tương lai có thể kéo dài, tiêu hao và diễn ra trên quy mô lớn.
Trọng tâm của cuộc chuyển đổi này là thay đổi các cơ cấu lực lượng tinh giản vốn chi phối kế hoạch quốc phòng châu Âu sau năm 1990. Suốt nhiều thập kỷ, hầu hết các nước châu Âu ưu tiên tính chuyên nghiệp hóa, năng lực tác chiến viễn chinh và xây dựng lực lượng nhỏ gọn nhưng công nghệ cao, được thiết kế để xử lý khủng hoảng thay vì bảo vệ lãnh thổ.
Ba Lan đang quyết liệt đi theo hướng ngược lại. Chương trình Phát triển Lực lượng Vũ trang giai đoạn 2025–2039 của nước này dự kiến biên chế 300.000 binh sĩ thường trực được hỗ trợ bởi 200.000 quân dự bị, bao gồm lực lượng dự bị sẵn sàng chiến đấu cao mới được thành lập.
Điều này phản ánh một nhận định chiến lược rằng khả năng răn đe đáng tin cậy đòi hỏi năng lực chịu đựng tổn thất, duy trì tác chiến và tái tạo sức mạnh chiến đấu dưới áp lực cao.
Cam kết tài chính làm nền tảng cho chiến lược này là rất lớn. Ba Lan hiện đã chi hơn 4% GDP cho quốc phòng, tỉ lệ cao nhất trong khối NATO và nhận được sự ủng hộ chính trị để luật hóa mức chi tiêu này vào Hiến pháp.
Ngân sách không chỉ dành cho mua sắm vũ khí mà còn tập trung vào cường độ huấn luyện, khả năng sẵn sàng của lực lượng dự bị và mở rộng năng lực công nghiệp quốc phòng nội địa.
Việc Warsaw chú trọng sản xuất quốc phòng trong nước phản ánh đánh giá rằng nội lực công nghiệp, chuỗi cung ứng và khả năng duy trì là rất quan trọng đối với khả năng phục hồi trong thời chiến cũng như các đơn vị chiến đấu tiền tuyến.
Tuy nhiên, những tham vọng này không phải không có rủi ro. Nhân khẩu học đang đặt ra một hạn chế đáng kể. Dân số 38 triệu người của Ba Lan đang già đi và việc duy trì một lực lượng nửa triệu quân trong dài hạn sẽ gây áp lực lên thị trường lao động, tài chính công và sự gắn kết xã hội.
Ở cấp độ liên minh, chiến lược của Ba Lan đặt ra những câu hỏi rộng hơn. Một đội quân quốc gia đông đảo sẽ củng cố sườn Đông của NATO nhưng cũng định hình lại những kỳ vọng trong khối.
Nếu các quốc gia tiền tuyến đầu tư mạnh vào phòng thủ lãnh thổ và huy động lực lượng, các nước khác có thể chịu áp lực phải làm theo hoặc đối mặt với nguy cơ bị gạt ra bên lề về mặt chiến lược.

Bình luận (0)