Cuộc sống còn chông chênh, thiếu trước hụt sau. Hôm ấy, khi nhà đang chuẩn bị bữa trưa đơn sơ thì em kế tôi dắt về một đứa trẻ lạ - một đứa con lai, chừng tuổi nó. Thằng bé có làn da đen bóng, mái tóc xoăn tít sát da đầu, quần áo rách bươm và nặng mùi vì đã rất lâu không được tắm gội.
Nó là một đứa trẻ lang thang, không tên, không tuổi, không nơi nương tựa. Người ta thấy nó da đen thì gọi là "thằng Đen", và nó cũng tự nhận mình là thằng Đen, như thể đó là cái tên duy nhất trên đời dành cho nó.
Người ta nói sau năm 1975, những đứa trẻ con lai, kết quả của cuộc chiến tranh để lại, bị bỏ rơi trong các trại trẻ mồ côi, bị kỳ thị, sống lay lắt trong thiếu thốn và lãng quên. Thằng Đen là một trong số đó. Nó lớn lên trong trại mồ côi, không biết cha mẹ mình là ai. Rồi một ngày, nó rời trại, sống vạ vật ở bến xe, bến tàu xin ăn qua ngày.
Nó trôi dạt đến vùng đất "khỉ ho cò gáy" này khi theo chân mấy bà buôn chuyến nhảy tàu chợ từ Sài Gòn ra. Tàu dừng ở ga Sông Phan, nó theo họ lội bộ về vùng kinh tế mới này. Nhưng nơi đất nghèo, dân còn ăn bữa đói bữa no, lấy đâu ra lòng bao dung với một đứa trẻ lai, lạc loài và bẩn thỉu? Không ai muốn chứa chấp nó.
Thấy nó đói khát, tội nghiệp, em tôi dắt nó về nhà.
Lúc ấy, nhà tôi chỉ có mẹ là lao động chính, còn anh tôi mới đủ tuổi lao động phụ. Năm miệng ăn trong nhà chỉ trông chờ vào công điểm của mẹ đi làm hợp tác xã đã là quá sức chịu đựng của mẹ. Nhưng thấy thằng bé tội nghiệp, mẹ tôi không nỡ chối từ. Mẹ bảo cứ để nó ở lại, có gì ăn nấy. Mẹ chia cho nó mấy bộ quần áo cũ của anh em tôi, nhưng nó chỉ quen mặc mỗi chiếc quần đùi, không chịu mặc áo. Chỉ khi nào theo chúng tôi vào rừng, mẹ bắt mặc áo để tránh gai rừng cào rách da, nó mới chịu nghe.

Để đỡ đần mẹ, anh em tôi cùng nhau vào rừng hái măng, đào củ mài. Sau này lớn lên, tôi mới biết củ mài ấy chính là sâm hoài sơn, một vị thuốc quý trong Đông y. Chúng tôi đã từng sống qua những tháng ngày khó khăn, ăn "sâm quý" độn cơm mà không hề hay biết!
Thằng Đen cũng theo chúng tôi vào rừng hái măng, đào củ mài và đi tát cá ở mương. Mùa hạn, nước cạn, mương chỉ còn lại những vũng nhỏ. Chúng tôi đắp bờ, dùng thau tát cạn nước để bắt cá. Tay nó dài, thọc sâu được vào những hang cá trê, lôi ra những con cá trốn sâu nhất. Có lần bị ngạnh cá đâm chảy máu, nó la oai oái nhưng rồi lại cười toe.
Mùa trỉa lúa rẫy, hợp tác xã huy động cả trẻ con ra đồng. Người lớn cuốc lỗ, trẻ con gieo lúa giống. Công việc nhẹ, lại được ăn cơm toàn phần (cơm không độn) vào buổi trưa, dù chỉ là cơm chan nước mắm pha chanh đường, nên đứa nào cũng thích. Thằng Đen cũng được đi. Ban đầu nó lóng ngóng, nhưng chỉ vài hôm là quen. Nó được tính công điểm bằng nửa lao động phụ.
Ban đầu, nhiều người trong xóm tỏ ra kỳ thị, xa lánh thằng Đen. Nhưng dần dà, thấy nó hiền lành, họ cũng bớt khắt khe. Mẹ tôi dạy nó bỏ nói tục, dạy cách xưng hô lễ phép, cách ăn uống sao cho không khiến người khác khó chịu. Nó học nhanh, ngoan ngoãn vâng lời.
Mỗi tối, khi anh em tôi chong đèn dầu học bài, thằng Đen cũng ngồi cạnh. Mẹ hỏi nó có muốn học chữ không, nó gật đầu. Vậy là mẹ giao cho tôi dạy nó học. Mẹ bảo: "Chắc nó không ở với mình được lâu đâu. Con gắng dạy cho nó biết chữ, sau này ra đời, nó còn có cái chữ trong đầu mà sống". Nó cũng thông minh, tiếp thu nhanh, chẳng mấy chốc đã biết đọc, biết viết, làm được các phép tính đơn giản.
Tết năm ấy, nhà tôi được cấp vải tem phiếu để may đồ mới. Mỗi đứa được một bộ. Mẹ tôi bớt lại phần vải quần của tôi để mua thêm phần vải áo, may cho thằng Đen một chiếc áo Tết. Tôi mặc lại chiếc quần cũ, đã được mẹ vá hai miếng sau mông. Thằng Đen mặc áo mới từ giao thừa đến mồng Ba, rồi lại cởi trần như thường lệ. Mẹ dặn: "Ra đường phải mặc áo, không được cởi trần". Nó nghe lời.
Thằng Đen sống với gia đình tôi hơn một năm thì có người tìm đến. Một người đàn ông từ Sài Gòn, đi cùng mấy bà buôn chuyến mà nó từng theo về, đến gặp mẹ tôi, nói là họ hàng với mẹ ruột thằng Đen, muốn đưa nó về. Nghe vậy, mẹ tôi mừng lắm. Bà tin rằng nó sẽ có cuộc sống tốt hơn khi được về với mẹ nó. Mẹ gọi nó vào, nói chuyện, bảo rằng những người này sẽ đưa con về gặp mẹ ruột. Nó lắc đầu, không chịu đi. Mẹ phải khuyên nhủ mãi, nó mới chịu nghe theo.
Mẹ xin họ quay lại vào ngày hôm sau để có thời gian chuẩn bị cho nó ít quần áo và đồ ăn mang theo. Bà nấu một nồi xôi đậu đen, gói một gói to tướng trong lá chuối để nó mang theo ăn dọc đường. Sáng hôm sau, nó chia tay chúng tôi trong nước mắt. Mẹ tôi cũng mắt đỏ hoe, đứng nhìn theo cho đến khi bóng nó khuất hẳn.
Từ đó, chúng tôi không còn tin tức gì về thằng Đen. Nhiều năm sau, khi tôi vào TP HCM học đại học, tôi mới biết chính phủ Mỹ có chính sách hồi hương con lai và bảo lãnh cho cả gia đình có con lai sang Mỹ định cư. Rất nhiều đứa trẻ đã bị biến thành món hàng mua bán để thực hiện giấc mơ di cư ấy. Có thể, thằng Đen cũng đã trở thành một phần trong các "thương vụ" đó. Tôi kể chuyện này cho mẹ nghe, mẹ tôi thở dài và nói: "Chỉ mong người đưa thằng Đen đi đã tìm được cha nó...".
Bình luận (0)