Đăng nhập
icon Đăng ký gói bạn đọc VIP E-paper

Thiêng liêng hai tiếng “đồng bào”

LÊ MINH QUỐC

1. Cách đây 971 năm, mùa đông năm 1055 ở nước ta thời tiết thay đổi bất thường, giá rét khủng khiếp, khí trời lạnh buốt, vua Lý Thánh Tông bảo các quần thần:

"Trẫm ở chốn thâm cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vì vậy, hạ lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa".

Lại có một hôm ngài ra ngự ở điện Diên Khánh xét án, Đông thiên công chúa đứng hầu bên cạnh, ngài chỉ vào công chúa mà bảo các quan: "Lòng trẫm yêu dân cũng như con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi".

Với những sự việc này, "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi nhận ngài "thực lòng thương dân"; sử gia Trần Trọng Kim đánh giá: "Ngài có lòng nhân như thế, trăm họ mến phục, trong đời ngài làm vua ít có giặc giã".

Ta lý giải thế nào về đức tính của vua Lý Thánh Tông cũng như hàng ngàn năm nay, bao giờ non sông ta, đất nước ta cũng có hàng triệu, hàng triệu tấm lòng như thế? Họ đã hành động và thể hiện tinh thần nghĩa hiệp trong sự sẻ chia, đùm bọc: "Thương người như thể thương thân", "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng", "Lá lành đùm lá rách", "Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ", "Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"... Các câu ca dao, tục ngữ này phản ánh được phẩm chất tốt đẹp và truyền tải được nét văn hóa nhân đức bất di bất dịch của dân tộc ta.

Do đâu?

 - Ảnh 1.

Khúc hát xuân biên cương. Ảnh: nguyễn văn cường

2. Có nhiều ý kiến lý giải, song theo tôi chính là niềm tin khởi đầu từ hai tiếng thiêng liêng: "đồng bào".

Về chữ nghĩa, ở đây, có lẽ không gì thú vị hơn, khi chúng ta đọc lại văn bản viết tay năm 1659 của Bento Thiện khi ông trình bày về "Lịch sử nước Annam": "Lạc Long Quân trị vì, lấy vợ tên là Âu Cơ, có thai đẻ ra một bọc có một trăm trứng, nở ra được một trăm con trai". Thật đáng kinh ngạc, cách đây hơn 300 năm, câu văn sử dụng tiếng Việt đã chuẩn mực, trong sáng đến thế, với câu "có thai đẻ ra một bọc có một trăm trứng", chính là nghĩa của từ "đồng bào", là "cùng bọc".

Trong khả năng hiểu biết của tôi, từ "đồng bào" xuất hiện trong "Dictionarium Anamitico - Latinum" (1773) của Pigneau de Béhaine, của Taberd (1877) đã giải thích: "germani fratres". Tra lại "Dictionarium Anamitico - Latinum" (1938) của Taberd, ta hiểu rõ các từ này liên quan đến tình thân thiết, ruột thịt của anh em, thân quyến trong dòng tộc... "Đại Nam quấc âm tự vị" (1895) giải thích "Đồng bào: Đồng nhau rún, anh em ruột", "Cốt nhục đồng bào": Thịt xương bởi một nhau rún, anh em ruột". Sau này, "Việt Nam tự điển" (1931) cũng giải thích tương tự: "Cùng một bọc cha mẹ sinh ra: Anh em đồng bào. Nghĩa rộng: Người cùng một nước: Nên cứu giúp người đồng bào trong khi hoạn nạn".

Từ huyền sử đã lưu truyền từ đời này sang đời khác, có lẽ duy nhất dân tộc Việt Nam có tên gọi "đồng bào" là nhằm chỉ "người trong một nước". Cụm từ này, tự bản thân nó đã là một lời nhắc nhở đừng bao giờ quên điều thiêng liêng đó. Thật không gì cao đẹp và xúc động hơn khi chúng ta nhớ lại chi tiết liên quan đến từ "đồng bào" trong ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Về sự kiện trọng đại này, nhân chứng là nhà thơ Xuân Diệu kể lại, đăng trên Báo Tiên phong - cơ quan Vận động văn hóa mới - số đặc biệt kỷ niệm Ngày Độc lập 2-9-1946: "Rồi quốc dân lạ lùng hơn nữa, khi Chủ tịch đứng trên đài cao, dưới chiếc ô trắng che mặt trời, trước máy truyền thanh, hỏi một câu bất ngờ: "Đồng bào nghe có rõ không?". Đến đây, thì bao nhiêu bỡ ngỡ giữa Chủ tịch và quốc dân tan đi như khói, và một làn điện lực vô hình bắt đầu truyền đi giữa Chủ tịch với quốc dân. Thì ra Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa hề đọc diễn văn bao giờ; Chủ tịch tuyên ngôn là tuyên ngôn với ai, chứ chẳng hề tuyên ngôn với đồng bào bao giờ cả. Với một câu hỏi đột ngột thật chẳng ai ngờ đến, Hồ Chủ tịch đã ra ngoài thể cả lệ luật, tất cả nghi vệ, tất cả đại diện, tất cả Chính phủ. Hồ Chủ tịch đã là Cụ Hồ của dân Việt Nam. "Đồng bào nghe có rõ không?", qua cái giây ngạc nhiên thấy Hồ Chủ tịch vứt cả sự xếp đặt thường lệ, ai nấy đều cảm nghe tất cả tấm lòng yêu thương của Chủ tịch đối với quốc dân; ai nấy đều thấy dù lỗi lạc, Hồ Chủ tịch chỉ là một người như mình, một người với mình. Hồ Chủ tịch ân cần gần gũi chúng ta chăm nom hỏi han ta với cái lòng thương yêu vô hạn. Đáp lại câu hỏi "có nghe rõ không" của Hồ Chủ tịch, một triệu lời đáp lại: "Có!".

Khi sử dụng từ "đồng bào" là lúc ấy Bác Hồ cùng mọi người hướng về tâm linh của nguồn cội, của tình cảm gắn bó máu thịt của tình thương yêu đùm bọc lấy nhau từ thời dựng nước. Tình cảm ấy bất biến, tồn tại trường cửu như sức sống của cả một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến.

Hai tiếng "đồng bào" thiêng liêng ấy, thuở nước mất nhà tan, các nhà nho dấn thân, yêu nước thương nòi đã từng nhắc đến, chẳng hạn, giáo trình giảng dạy học trò của trường Đông Kinh nghĩa thục:

Đã sinh cùng giống, cùng nòi

Cùng trong đất nước là người đồng thân

Phải coi ruột thịt cho gần

Phải thương, phải xót quây quần lấy nhau

Phúc cùng hưởng, họa cùng đau

Một gan một dạ ghi sâu chữ "đồng"

Hai tiếng "đồng bào" thiêng liêng ấy, những năm đầu thế kỷ 20, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương còn lưu truyền bài "Chúc phúc Hội Đền Hùng" ra đời, nay đọc lại vẫn còn xúc động:

Trứng Rồng lại nở ra Rồng

Ngàn con muôn cháu vốn dòng Lạc Long

Cây kia ăn quả ai trồng

Sông kia nước uống hỏi dòng từ đâu?

Quân thần hai chữ trên đầu

Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son.

3.Do xuất phát từ niềm tin "đồng bào" cùng chung nhau rún nên đã tạo nên truyền thống, cốt cách văn hóa của người Việt chính là lòng nhân dành cho nhau. Vì thế, từ ngàn năm chống chọi với "thủy hỏa đạo tặc", bao giờ người Việt cũng xuất phát từ tinh thần:

Nước lụt thì lút cả làng

Đắp đê chống lụt, cả làng cùng lo.

Nhìn rộng ra, khi sự việc nào đó xảy ra thì cũng là mối quan tâm của cả cộng đồng từ Bắc chí Nam. Chính vì không hiểu nghĩa khí, tinh thần "đồng bào" của người Việt nên giặc ngoại xâm đều chuốc lấy thảm bại khi xâm lược nước Nam ta là thế. Và, ngay cả thiên tai hỏa hoạn dù tàn khốc đến đâu cũng không thể đè bẹp được ý chí sinh tồn của người Việt là thế. Dù thế nào người Việt cũng không sợ hãi, không đầu hàng, "Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo", vẫn tin tưởng về phía tương lai: "Chớ than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây".

Sở dĩ có niềm tin mãnh liệt, vì mỗi một chúng ta không là cá thể đơn lẻ, mà là một thành viên gắn kết trong cộng đồng có chung nguồn cội máu mủ, ruột thịt qua từ bình dị mà thiêng liêng: "đồng bào".

Lên đầu Top

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.

Thanh toán mua bài thành công

Chọn 1 trong 2 hình thức sau để tặng bạn bè của bạn

  • Tặng bằng link
  • Tặng bạn đọc thành viên
Gia hạn tài khoản bạn đọc VIP

Chọn phương thức thanh toán

Tài khoản bạn đọc VIP sẽ được gia hạn từ  tới

    Chọn phương thức thanh toán

    Chọn một trong số các hình thức sau

    Tôi đồng ý với điều khoản sử dụng và chính sách thanh toán của nld.com.vn

    Thông báo