Đề xuất sửa quy định thời gian tính trợ cấp thôi việc

Tin mới

07/03/2018 08:49

(NLĐO)- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) đề xuất sửa đổi thời gian tính trợ cấp thôi việc (TCTV) theo hướng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động không bao gồm: thời gian thử việc, học nghề, tập nghề; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật BHXH.

Tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12-1-2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật Lao động, Bộ LĐ-TB-XH đề xuất sửa đổi thời gian tính TCTV.

Bộ LĐ-TB-XH cho biết, theo quy định tại Nghị định số 05/2015/NĐ-CP thì thời gian làm việc để tính TCTV, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động (NLĐ) đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả TCTV. Trong đó: thời gian NLĐ làm việc thực tế cho NSDLĐ bao gồm cả thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật BHXH (thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH).

Đề xuất sửa quy định thời gian tính trợ cấp thôi việc - Ảnh 1.

Tuy nhiên, quy định về cách tính thời gian NLĐ làm việc thực tế cho người sử dụng lao động đang bộc lộ một số vướng mắc, khó khăn khi tính trợ cấp thôi việc cho người lao động, vì các lý do sau. Cụ thể: thời gian NLĐ thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ và thời gian NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH thì NLĐ định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12-3-2015 của Chính phủ. 

Bên cạnh đó, mặc dù thời gian NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không thuộc đối tượng tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng thời gian này được tính là đã đóng BHXH, theo đó đối với giai đoạn trước khi Luật Việc làm có hiệu lực thi hành thì thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Thời gian này thường ngắn (từ 1 - 6 tháng), khi tính TCTV thường phải làm tròn thành nửa năm, gây vướng mắc cho NSDLĐ, đồng thời làm tăng chi phí của doanh nghiệp (DN) khi chi trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ, trong khi phần lớn thời gian NLĐ thực tế làm việc đã được NSDLĐ tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Vì vậy, tại dự thảo, Bộ LĐ-TB-XH đề xuất sửa đổi thời gian tính TCTV theo hướng thời gian làm việc thực tế cho NSDLĐ không bao gồm: thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật BHXH để tạo điều kiện cho DN khi giải quyết chế độ TCTV cho NLĐ.

Cụ thể, theo dự thảo, thời gian làm việc để tính TCTV, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả TCTV; trong đó: Thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ bao gồm: thời gian NLĐ đã làm việc cho NSDLĐ; thời gian được NSDLĐ cử đi học được hưởng nguyên lương; thời gian nghỉ hàng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; nghỉ để hoạt động Công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của NLĐ; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.

Đề xuất sửa quy định thời gian tính trợ cấp thôi việc - Ảnh 2.

Thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian NLĐ đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian NLĐ được NSDLĐ chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Thời gian làm việc để tính TCTV, TCTV làm của NLĐ được tính theo năm, trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 6 tháng trở lên được tính bằng 1 năm làm việc.

Đ.Viên
Bình luận

Đăng nhập với tài khoản:

Đăng nhập để ý kiến của bạn xuất bản nhanh hơn
 
 

Hoặc nhập thông tin của bạn

TIN MỚI