PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, trao đổi với Báo Người Lao Động về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam.
.Phóng viên: Dự thảo Nghị quyết đề xuất nhiều cơ chế đột phá như hợp tác công - tư cho thiết chế văn hóa, ưu tiên tài chính cho 3 lĩnh vực then chốt… Theo ông, những chính sách này sẽ tạo ra tác động cụ thể như thế nào đến lĩnh vực văn hóa hiện nay?

PGS-TS Bùi Hoài Sơn (trái)
- PGS-TS BÙI HOÀI SƠN: Giá trị lớn nhất của dự thảo Nghị quyết lần này là đã chuyển tư duy phát triển văn hóa từ chỗ chủ yếu trông chờ vào ngân sách Nhà nước sang tư duy huy động các nguồn lực xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, còn khu vực tư nhân và xã hội trở thành động lực quan trọng. Đây chính là điểm rất mới, rất đúng với tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, đồng thời cũng là câu trả lời cho những "điểm nghẽn" kéo dài nhiều năm qua của lĩnh vực văn hóa: thiếu vốn, thiếu đất, thiếu cơ chế khai thác thiết chế, thiếu động lực cho sáng tạo và thiếu hành lang pháp lý đủ mạnh để thu hút đầu tư.

Chương trình “Anh trai say hi” tối 16-3 tại Sân vận động Mỹ Đình, Hà Nội thu hút sự tham gia của hàng vạn khán giả (Ảnh: NHI NHI)
Dự thảo đã đi rất trúng khi cho phép triển khai PPP trong các lĩnh vực như nhà hát, rạp chiếu phim, trung tâm văn hóa, bảo tàng, di tích, thậm chí thí điểm cho doanh nghiệp thuê quyền khai thác có thời hạn đối với một số tài sản kết cấu hạ tầng văn hóa, thể thao. Điều đó có nghĩa là nhiều thiết chế vốn đang đầu tư dở dang, vận hành kém hiệu quả hoặc bị lãng phí sẽ có cơ hội được "đánh thức" bằng năng lực quản trị, công nghệ, vốn và cách làm linh hoạt của khu vực tư nhân.
Nếu có thêm Quỹ Văn hóa nghệ thuật vận hành minh bạch, chuyên nghiệp, đây sẽ là công cụ rất tốt để kết nối nguồn lực công với nguồn lực xã hội, tài trợ cho các ý tưởng mới, các nghệ sĩ trẻ, các dự án bảo tồn, số hóa, quảng bá văn hóa. Nói cách khác, dự thảo không chỉ giải quyết câu chuyện "thiếu tiền", mà sâu xa hơn là giải quyết câu chuyện "thiếu cơ chế để tiền đi đúng chỗ, đúng người, đúng việc".
.Những cơ chế chính sách đột phá này mang ý nghĩa chiến lược như thế nào đối với việc xây dựng và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thưa ông?
- Khi dự thảo đề xuất các ưu đãi rõ ràng cho công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, cụm và khu công nghiệp sáng tạo về văn hóa; khi đề xuất thuế giá trị gia tăng 5% cho nhiều loại hình hàng hóa, dịch vụ văn hóa; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án đầu tư vào công nghiệp văn hóa; miễn thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực này…, đây không chỉ là ưu đãi tài chính đơn thuần. Đó là một thông điệp chiến lược: Việt Nam bắt đầu nhìn công nghiệp văn hóa như một mũi nhọn của tương lai.
Một bộ phim lịch sử, một vở nhạc kịch lấy cảm hứng từ di sản, một nền tảng bảo tàng số, một sản phẩm hoạt hình Việt Nam, một chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc được dàn dựng hiện đại…, tất cả đều có thể trở thành những "sứ giả" của văn hóa Việt Nam trong thời đại số. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4, bản sắc không thể chỉ được gìn giữ trong tủ kính hay trong ký ức, mà phải bước vào thị trường, bước lên nền tảng số, bước ra thế giới bằng ngôn ngữ sáng tạo mới.
.Với Nghị quyết này, ông kỳ vọng gì về sự thay đổi của văn hóa Việt Nam đặc biệt ở khía cạnh xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia và góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững?
- Trước hết, về con người, tôi mong văn hóa sẽ thực sự trở lại vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển. Khi thiết chế văn hóa được đầu tư tốt hơn, khi người dân được tiếp cận nhiều hơn với bảo tàng mở, thư viện số, nhà hát di động, không gian sáng tạo, khi ngày 24-11 trở thành Ngày Văn hóa Việt Nam với tinh thần toàn xã hội cùng thụ hưởng và thực hành văn hóa, thì tác động không chỉ dừng lại ở giải trí hay tiêu dùng văn hóa, mà sâu xa hơn là hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn, bồi đắp lối sống, ý thức công dân và khát vọng cống hiến.
Tôi kỳ vọng sức mạnh mềm quốc gia của Việt Nam sẽ được nâng lên rõ rệt. Khi có thêm nhiều tác phẩm lớn, nhiều nghệ sĩ được đãi ngộ xứng đáng, nhiều sản phẩm văn hóa được đầu tư chuyên nghiệp, nhiều di sản được số hóa và quảng bá bằng công nghệ mới, thì hình ảnh Việt Nam trong mắt thế giới sẽ không chỉ là một đất nước giàu truyền thống, mà còn là một quốc gia sáng tạo, năng động và có khả năng đóng góp vào dòng chảy văn hóa toàn cầu.
Tôi tin văn hóa sẽ đóng góp trực tiếp hơn cho phát triển bền vững. Khi công nghiệp văn hóa phát triển, thị trường văn hóa được mở rộng, các thiết chế được vận hành hiệu quả hơn, du lịch văn hóa, sản xuất nội dung số, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế sáng tạo, bảo tàng, triển lãm… đều có thể tạo việc làm, thu nhập, thu ngân sách và lan tỏa giá trị xã hội.
.Theo đánh giá của ông, những chính sách đột phá này sẽ góp phần như thế nào vào việc thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị?
- Dự thảo Nghị quyết lần này chính là bước đi thể chế hóa rất quan trọng để đưa Nghị quyết 80-NQ/TW đi vào cuộc sống. Nói cách khác, nếu Nghị quyết 80 là định hướng chiến lược, thì dự thảo Nghị quyết của Quốc hội lần này là công cụ thực thi chiến lược ấy.
Việc bảo đảm chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa và ưu tiên cho 3 lĩnh vực đột phá là đào tạo nhân tài, chuyển đổi số và đặt hàng sáng tạo tác phẩm có giá trị cao sẽ tạo ra một "trục xương sống" cho phát triển lâu dài. Một dân tộc muốn đi xa thì không thể chỉ mạnh về kinh tế, mà còn phải mạnh về tâm hồn, về bản lĩnh văn hóa, về chiều sâu nhân văn.
Bình luận (0)